Phải lập nhật kí nghiên cứu KHKT là cần thiết, đề xuất rõ đầu mối tiếp nhận tố cáo tiêu cực

01/09/2026 06:39
Mạnh Dũng
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo lãnh đạo một số cơ sở giáo dục, việc dự thảo quy định trách nhiệm liên đới của người hướng dẫn và nhà trường sẽ góp phần tính trung thực, khách quan và liêm chính khoa học của cuộc thi nghiên cứu khoa học, kĩ thuật cấp quốc gia.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố Dự thảo Thông tư ban hành Quy chế Cuộc thi nghiên cứu khoa học, kĩ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông.

Theo dự thảo, học sinh bắt buộc phải lập nhật kí nghiên cứu liên tục (bằng bản viết hoặc điện tử), ghi nhận rõ thời gian, đầu việc, phương pháp và vai trò của từng người, có xác nhận định kì của giáo viên hướng dẫn.

Cùng với đó, học sinh được phép sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để tra cứu hoặc mô phỏng, nhưng phải kê khai trung thực trong hồ sơ về mục đích, phạm vi sử dụng. Nghiêm cấm dùng AI để giả mạo quá trình nghiên cứu, tạo lập dữ liệu sai lệch hoặc thay thế hoạt động phân tích, sáng tạo của học sinh.

Theo một số hiệu trưởng cơ sở giáo dục và chuyên gia, việc học sinh bắt buộc phải lập nhật kí nghiên cứu liên tục là hướng đi cần thiết để đảm bảo tính trung thực và liêm chính khoa học.

Quy định để việc nghiên cứu khoa học của học sinh đi vào thực chất, hạn chế giả mạo

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Trương Xuân Cừ - Đại biểu Quốc hội khóa XV cho rằng, việc dự thảo quy định học sinh phải lập nhật kí nghiên cứu liên tục bằng bản viết hoặc bản điện tử ghi nhận rõ thời gian, đầu việc, phương pháp, vai trò từng người và có xác nhận định kỳ của giáo viên hướng dẫn có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Nhật kí nghiên cứu liên tục là bằng chứng khẳng định việc tổ chức nghiên cứu của học sinh, sự đồng hành của giảng viên là có thật. Qua đó, chứng minh được tính kế thừa, sự công phu, nghiên cứu thật và kết quả thật của từng dự án.

Thực tế, mặc dù quy trình tổ chức, nghiệm thu, giám sát hay phản biện nghiên cứu khoa học đã được thực hiện tương đối nghiêm ngặt, nhưng không thể phủ nhận vẫn còn những đề tài mang tính đối phó, hợp thức hóa để quyết toán ngân sách, hoặc phục vụ cho lợi ích nhóm với hiệu quả thiết thực rất khiêm tốn.

Hơn nữa, không ít học sinh tham gia nghiên cứu khoa học kỹ thuật không phải vì niềm đam mê khoa học thuần túy, mà chỉ vì tâm lý muốn làm đẹp hồ sơ học tập để phục vụ mục đích tiến thân hay tạo dựng vị thế cá nhân. Khi bước ra thực tiễn, năng lực giải quyết công việc thực tế của nhiều em lại hoàn toàn trái ngược với những giải thưởng sở hữu.

Chính vì vậy, quy định lập nhật kí nghiên cứu liên tục sẽ đưa hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trở nên minh bạch, đi vào bản chất của một quá trình rèn luyện dài hạn, thay vì chạy theo những lợi ích trước mắt hay các mục đích cá nhân.

Ngoài ra, quy định mới cho phép học sinh sử dụng AI để tra cứu, mô phỏng nhưng yêu cầu kê khai trung thực là một bước đi cởi mở và phù hợp với xu thế phát triển.

Học sinh dùng AI ở phần nào, lấy số liệu hay nhận định thì phải kê khai rõ ràng trong hồ sơ. Việc khai thác đúng, sử dụng hợp lý những nội dung từ AI hoàn toàn không làm giảm giá trị của đề tài, mà còn thể hiện tư duy biết tận dụng công nghệ của người nghiên cứu.

image-6.jpg
Tiến sĩ Trương Xuân Cừ - Đại biểu Quốc hội khóa XV. Ảnh: Thi Thi.

Cùng chia sẻ về dự thảo, Nhà giáo Ưu tú, Tiến sĩ Vũ Văn Tiến - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Chuyên Đại học Sư phạm, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cho rằng, việc bắt buộc lập nhật kí nghiên cứu định kì và có xác nhận là một biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn việc học sinh sử dụng AI làm hộ toàn bộ đề tài. Đây là quy định để việc nghiên cứu khoa học của học sinh đi vào thực chất, hạn chế giả mạo; đồng thời yêu cầu học sinh thực hiện nghiêm túc, tránh hình thức, đối phó.

Nhật kí nghiên cứu, về bản chất là minh chứng lưu dấu vết quá trình làm việc, nghiên cứu của học sinh. Nhật kí không chỉ cho biết sản phẩm cuối cùng mà còn ghi lại cả quá trình, những giả thuyết sai, những lần thử nghiệm thất bại, hay những lần điều chỉnh phương pháp.

Việc xác nhận định kì, thay vì xác nhận một lần vào thời điểm cuối là điểm mấu chốt tạo ra sự minh bạch. Nếu kí xác nhận một lần khi nộp hồ sơ thì chỉ mang tính hình thức, giáo viên hướng dẫn hoàn toàn có thể kí một cách dễ dàng mà không cần giám sát suốt quá trình nghiên cứu. Đồng thời, học sinh hoặc người làm hộ vẫn có thể dựng lại nhật kí sau khi đã có kết quả. Việc xác nhận theo từng mốc thời gian buộc người hướng dẫn phải làm việc nghiêm túc hơn, có trao đổi thực sự và chứng kiến học sinh ở từng giai đoạn nghiên cứu.

Nhà giáo Ưu tú, Tiến sĩ Vũ Văn Tiến - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Chuyên Đại học Sư phạm. Ảnh: NVCC

Nhà giáo Ưu tú, Tiến sĩ Vũ Văn Tiến - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Chuyên Đại học Sư phạm. Ảnh: NVCC

Cũng theo thầy Tiến, việc cho phép học sinh dùng AI để tra cứu, mô phỏng nhưng bắt buộc kê khai trung thực là bước đi cởi mở, bởi việc hướng dẫn học sinh sử dụng AI đang là một yêu cầu cần triển khai cấp thiết.

Người hướng dẫn đề tài cần hướng dẫn học sinh tính tự giác, trách nhiệm, trung thực khi làm công tác nghiên cứu khoa học. Mức độ kê khai nên được phân định theo ba mức, tương ứng như sau:

Mức 1, sử dụng AI như một công cụ tra cứu, biên tập. Học sinh dùng AI để tìm và tổng hợp tài liệu nền, dịch thuật, rà soát ngữ pháp, gợi ý cách trình bày. Ở mức này chỉ cần kê khai tổng quát trong hồ sơ (tên công cụ, mục đích sử dụng).

Mức 2, sử dụng AI như công cụ mô phỏng, hỗ trợ phân tích. Học sinh dùng để mô phỏng số liệu khi thực nghiệm thực tế bị giới hạn, ví dụ mô hình hoá khí hậu, mô phỏng mạch điện, hoặc hỗ trợ viết mã xử lí số liệu. Ở mức này bắt buộc kê khai chi tiết, gồm: mô hình, tham số đầu vào và quan trọng nhất, kết quả mô phỏng phải được đối chiếu, kiểm chứng với dữ liệu thực nghiệm hoặc tài liệu tham khảo độc lập, không được dùng để thay thế hoàn toàn số liệu thực nghiệm nếu đề tài đòi hỏi thực nghiệm.

Mức 3, giả mạo nếu tác giả để AI viết toàn bộ phần phân tích, biện luận, kết luận khoa học, hoặc tạo ra một bộ dữ liệu ảo rồi trình bày như dữ liệu thu thập thực tế. Đây không còn là hỗ trợ mà là giả mạo, dù có kê khai hay không.

Bên cạnh đó, về mặt công cụ, nên có một nhật kí sử dụng AI tách riêng khỏi nhật kí nghiên cứu chính, ghi rõ: tên và phiên bản công cụ, mục đích, tóm tắt nội dung đã trao đổi với AI.

Ngoài ra, người hướng dẫn cần được tập huấn để nhận diện dấu hiệu can thiệp AI quá mức như văn phong đồng nhất bất thường so với các phần học sinh tự viết, số liệu quá đẹp, thiếu sai số tự nhiên của thực nghiệm hay có thể trực tiếp hỏi học sinh giải thích logic đằng sau kết quả trong các buổi xác nhận nhật kí định kì. Đây là phép thử hàng đầu để có thể phân biệt hiểu thật hay chỉ sao chép từ AI mà học sinh không hiểu bản chất vấn đề.

Dưới góc nhìn của thầy Huỳnh Lê Minh - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Chuyên Lê Quý Đôn (Gia Lai), thực tế thời gian qua cho thấy, trong các kỳ thi nghiên cứu khoa học, kĩ thuật vẫn tồn tại một số đề tài mà học sinh chỉ mang tính chất đứng tên và học thuộc để trình bày.

Những ý tưởng, câu hỏi nghiên cứu chưa chắc đã xuất phát từ sự tìm tòi của học sinh. Đồng thời, trong quá trình triển khai kế hoạch, sự tham gia của học sinh có thể rất hạn chế hoặc chỉ dừng lại ở một vài công đoạn nhỏ.

Ngoài ra, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ cũng dẫn đến nguy cơ một số học sinh lạm dụng AI để tìm kiếm câu hỏi nghiên cứu hay thậm chí là khởi tạo các số liệu giả mạo cho toàn bộ quá trình làm đề tài.

Từ thực trạng đó, quy định bắt buộc học sinh phải lập nhật kí nghiên cứu liên tục và có xác nhận định kỳ của người hướng dẫn như một bằng chứng đối soát là rất cần thiết.

Thực tế tại nhà trường, khi triển khai các bước trong quy trình nghiên cứu, học sinh đã thực hiện việc ghi chép sổ nhật kí rất đầy đủ, coi đây là một trong những hồ sơ bắt buộc phải có để tham gia cuộc thi các cấp.

Việc luật hóa quy định này thành điều khoản bắt buộc mang ý nghĩa thiết thực nhằm kiểm tra tính trung thực, minh bạch và xác nhận kết quả nghiên cứu đó thực sự là sản phẩm lao động của chính học sinh.

Tuy nhiên, nguy cơ xuất hiện những sổ nhật ký được lập ra một cách thiếu trung thực để hợp thức hóa hồ sơ vẫn có thể xảy ra. Vì vậy, cùng với quy định lập nhật ký, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần bổ sung các chế tài xử lý nghiêm khắc đối với cả những cơ sở nghiên cứu hoặc cá nhân xác nhận không đúng sự thật cho học sinh.

thay-huynh-le-minh-1024x683.jpg
Thầy Huỳnh Lê Minh - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Chuyên Lê Quý Đôn (Gia Lai). Ảnh website nhà trường

Quy định xử phạt đảm bảo tính răn đe nhưng nên được cụ thể hóa hơn

Bên cạnh khen thưởng, dự thảo nêu rõ chế tài xử phạt đối với từng đối tượng liên quan đến Cuộc thi vi phạm. Học sinh làm giả hồ sơ, nhật kí hay dữ liệu gốc sẽ bị hủy kết quả thi và cấm tham gia cuộc thi từ 1 đến 2 năm. Người hướng dẫn vi phạm có thể bị cấm hướng dẫn từ 1 đến 2 chu kì cuộc thi tiếp theo, bị xử lí theo luật viên chức và pháp luật khác có liên quan. Mọi giải thưởng của các dự án bị phát hiện vi phạm liêm chính khoa học sau đó đều sẽ bị thu hồi và công bố công khai.

Về vấn đề này, thầy Huỳnh Lê Minh nhấn mạnh, việc quy định thu hồi, công bố công khai mọi giải thưởng nếu phát hiện vi phạm liêm chính khoa học sẽ tạo ra sức răn đe mạnh mẽ, góp phần trả lại giá trị thực cho cuộc thi. Những chế tài này giúp đảm bảo sản phẩm dự thi phải là sản phẩm thật, phản ánh đúng năng lực và sự nỗ lực lao động trí tuệ của chính học sinh.

Tuy nhiên, để quy định xử phạt phát huy tối đa hiệu quả trong thực tế, khâu giám sát và phát hiện vi phạm đóng vai trò then chốt.

Thầy Minh cũng cho rằng, ban tổ chức các cuộc thi nên thành lập và công khai rộng rãi một kênh thông tin chính thức để tiếp nhận, xác minh các phản ánh về tiêu cực từ dư luận và các đơn vị dự thi. Đặc biệt, đối với hồ sơ sổ ghi nhật kí nghiên cứu vốn là bằng chứng cốt lõi để đối soát, việc có một kênh tiếp nhận phản ánh minh bạch sẽ giúp kiểm tra độc lập, kịp thời xử lý các trường hợp gian lận hay hợp thức hóa hồ sơ, từ đó bảo vệ sự công bằng và uy tín cho toàn bộ cuộc thi.

Còn theo Tiến sĩ Trương Xuân Cừ, việc dự thảo đưa ra các chế tài xử phạt nghiêm khắc như hủy kết quả và cấm thi, hay cấm hướng dẫn trong khoảng thời gian tương tự đối với giáo viên vi phạm là cần thiết. Sự thiếu trung thực, gian lận trong nghiên cứu khoa học nếu không được xử lý nghiêm sẽ ảnh hưởng đến các giá trị đạo đức, tính trung thực và tinh thần cống hiến vì cộng đồng, thay vì sự mưu lợi cá nhân.

Tuy nhiên, bên cạnh mục đích siết chặt kỷ luật thì chính sách xử phạt cũng cần được cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo tính nhân văn và giáo dục. Đối với học sinh, các em đang ở độ tuổi hình thành nhân cách và tư duy. Vì vậy, việc đưa ra hình phạt phải vừa đủ sức răn đe để ngăn chặn sai phạm, nhưng đồng thời cũng phải mở ra con đường để học sinh sửa chữa, giúp các em nhận thức được bài học về sự trung thực để tiếp tục phấn đấu.

Trong khi đó, thầy Vũ Văn Tiến đánh giá cao việc dự thảo quy định trách nhiệm liên đới của người hướng dẫn và nhà trường.

Theo thầy Tiến, trước đây, phần lớn quy chế các cuộc thi chỉ dừng ở việc loại khỏi vòng thi nếu bị phát hiện gian lận ngay tại thời điểm chấm mà thiếu cơ chế xử lí hậu kiểm khi vi phạm bị phát hiện sau khi đã trao giải và gần như không đề cập trách nhiệm của người hướng dẫn. Trong khi đó trên thực tế, trường hợp gian lận có “bàn tay” hỗ trợ hoặc sự “nhắm mắt làm ngơ” của người lớn. Việc quy định rõ người hướng dẫn có thể bị cấm hướng dẫn 1-2 chu kì tiếp theo và giải thưởng bị thu hồi, công bố công khai vừa mang tính răn đe, vừa đảm bảo tính công bằng và khả thi trong môi trường giáo dục.

anh-minh-hoa-csp.jpg
Ảnh minh họa: Website Trường Trung học phổ thông Chuyên Đại học Sư phạm, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Tuy nhiên, để quy định này vận hành công bằng và hiệu quả trong thực tế, dự thảo nên cụ thể hoá thêm một số khía cạnh, cụ thể:

Về quy trình xác minh vi phạm, cần nêu rõ ai có thẩm quyền tiếp nhận tố cáo, thời hạn xử lí và quyền được giải trình của học sinh cũng như người hướng dẫn trước khi kết luận.

Về phân biệt mức độ vi phạm, việc cố ý dàn dựng, giả mạo toàn bộ dự án khác về bản chất so với sơ suất kê khai chưa đầy đủ việc sử dụng AI, hay thiếu một vài mốc xác nhận nhật kí. Nếu áp dụng chế tài như nhau cho mọi mức độ, có thể xảy ra trường hợp phạt nặng với những sai sót không cố ý, nhưng không đủ sức răn đe với hành vi gian lận có chủ đích.

Đối với trách nhiệm liên đới của đơn vị cử học sinh dự thi, nếu một đơn vị có nhiều dự án vi phạm lặp lại qua nhiều năm, cần có cơ chế xem xét trách nhiệm ở cấp đơn vị, không chỉ dừng ở cá nhân học sinh và người hướng dẫn.

Nhìn chung, dự thảo lần này là một bước tiến đáng ghi nhận, chuyển trọng tâm từ việc chỉ đánh giá sản phẩm cuối cùng sang giám sát cả quá trình, đúng với tinh thần của nghiên cứu khoa học chân chính. Điều quan trọng tiếp theo là khâu tập huấn, hướng dẫn cụ thể để các quy định này không dừng lại trên giấy mà thực sự đi vào thực tiễn ở từng nhà trường, từng người hướng dẫn và các em học sinh.

Mạnh Dũng