Giảng dạy AI từ năm học 2026-2027, trường vùng khó làm gì để triển khai hiệu quả?

31/08/2026 06:52
Trần Trang
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Theo Hiệu trưởng trường vùng cao, điện lưới mới được lắp đặt hơn một năm nên nhiều học sinh chưa tiếp xúc với máy tính.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 2422/QĐ-BGDĐT ngày 18/8/2026 về Khung nội dung giáo dục trí tuệ nhân tạo cho học sinh phổ thông. Theo đó, từ năm học 2026-2027, giáo dục AI được triển khai đại trà tại các cơ sở giáo dục phổ thông trên cả nước, với nội dung cốt lõi 12 tiết/lớp/năm học, nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng AI tối thiểu và thiết yếu.

Để đáp ứng yêu cầu này, dù còn một số khó khăn trong tiếp cận công nghệ, các trường học ở vùng sâu, vùng xa đang chủ động chuẩn bị những điều kiện cần thiết để triển khai giáo dục AI.

Tạo mọi điều kiện cho học sinh được tiếp xúc với công nghệ

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Hoàng Đức Hoà - Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Thượng Trạch (tỉnh Quảng Trị) chia sẻ, thực hiện chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trường đã xây dựng kế hoạch triển khai ngay từ đầu năm học, phù hợp với đặc thù học sinh tại địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới.

Theo kế hoạch, nội dung giáo dục AI được triển khai cho học sinh ở hai cấp học. Với học sinh tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5, nhà trường tập trung hình thành nhận biết ban đầu về AI, tạo cơ hội để học sinh trải nghiệm những ứng dụng AI đơn giản, gần gũi, đồng thời từng bước hình thành thói quen sử dụng công nghệ an toàn.

Đối với học sinh trung học cơ sở từ lớp 6 đến lớp 9, nội dung giáo dục hướng đến việc giúp các em hiểu những khái niệm, nguyên lý hoạt động cơ bản của AI, biết sử dụng AI như một công cụ hỗ trợ học tập, đồng thời nhận thức về đạo đức, trách nhiệm và an toàn trên không gian mạng.

Nội dung AI được nhà trường triển khai linh hoạt thông qua môn Tin học, tích hợp vào các môn học khác, hoạt động trải nghiệm, giáo dục STEM, STEAM và các câu lạc bộ công nghệ. Cách tiếp cận này nhằm tránh việc coi giáo dục AI là một nội dung tách biệt, đồng thời tạo điều kiện để học sinh được tiếp cận công nghệ thông qua nhiều hoạt động học tập phù hợp với lứa tuổi.

c36d89799ddf1c8145ce.jpg
Thầy Hoàng Đức Hoà - Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Thượng Trạch (tỉnh Quảng Trị). Ảnh: NVCC

Thầy Hòa cho biết, Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Thượng Trạch được thành lập trên cơ sở sáp nhập 4 trường trên địa bàn xã Thượng Trạch gồm Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú Trung học cơ sở Thượng Trạch, Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Tân Trạch, Trường Tiểu học số 1 Thượng Trạch và Trường Tiểu học số 2 Thượng Trạch. Phần lớn học sinh của trường là con em đồng bào dân tộc thiểu số.

Nhà trường được đầu tư xây dựng trong Đề án 100 trường học tại các xã biên giới năm 2025, qua đó cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ dạy học từng bước được hoàn thiện. Tuy nhiên, theo thầy Hòa, khó khăn lớn trong triển khai giáo dục AI không nằm ở cơ sở vật chất mà ở khả năng tiếp cận và nhận thức về công nghệ của học sinh.

“Xã Thượng Trạch mới được cấp điện lưới khoảng hơn một năm, trong khi mạng internet và sóng điện thoại cũng mới được triển khai trong thời gian gần đây. Vì vậy, học sinh chưa có nhiều thời gian để tích lũy những kỹ năng số nền tảng như sử dụng chuột, bàn phím, quản lý thư mục, thao tác trên máy tính, làm quen với giao diện và ngôn ngữ công nghệ. Đây là những kỹ năng cần thiết trước khi học sinh có thể tiếp cận hiệu quả với các công cụ AI.

Trước thực tế này, nhà trường xác định thời gian đầu năm học là giai đoạn quan trọng để củng cố kỹ năng số nền tảng cho học sinh. Các em sẽ được hướng dẫn từ những thao tác cơ bản với máy tính, từng bước hình thành khả năng sử dụng thiết bị và môi trường số trước khi tiếp cận những nội dung AI ở mức độ cao hơn” - thầy Hòa chia sẻ.

1787577968281-7180024517138076467-7180024517138076467-59ed8588f605a404685db39102027a83.jpg
Giáo viên Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Thượng Trạch trong buổi tập huấn về sử dụng AI. Ảnh: NVCC

Theo thầy Hòa, song song với việc trang bị kỹ năng cho học sinh, nhà trường chú trọng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên. Giáo viên được tạo điều kiện tham gia các lớp tập huấn về phương pháp giáo dục AI, từ đó lựa chọn cách thức tổ chức dạy học phù hợp với trình độ nhận thức, điều kiện tiếp cận công nghệ và đặc điểm văn hóa của học sinh vùng biên giới.

Một hướng được nhà trường chú trọng là đưa những chủ đề gắn với đời sống và địa phương vào bài học. Thay vì tiếp cận AI thông qua những khái niệm xa lạ, học sinh có thể được hướng dẫn sử dụng công nghệ để tìm hiểu các vấn đề gần gũi với môi trường sống, qua đó tăng khả năng tiếp nhận và tạo hứng thú học tập.

Cùng chia sẻ về vấn đề này, cô Quàng Thị Xuân - Phó Hiệu trưởng Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Mường Lạn (tỉnh Sơn La) cho hay: “Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức đưa nội dung giáo dục AI vào trường phổ thông từ năm học 2026-2027 là một chủ trương rất cần thiết, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và sự phát triển của giáo dục hiện nay.

Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Mường Lạn là trường phổ thông nội trú mới được thành lập, vì vậy năm học này vừa là năm đầu tiên ổn định tổ chức, vừa là cơ hội để nhà trường từng bước xây dựng môi trường giáo dục theo hướng hiện đại và ứng dụng công nghệ.

Trên cơ sở Khung nội dung giáo dục trí tuệ nhân tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhà trường sẽ xây dựng kế hoạch 12 tiết/lớp/năm học phù hợp với từng khối lớp, đồng thời nghiên cứu lồng ghép vào các môn học và hoạt động giáo dục để nội dung AI đến với học sinh một cách nhẹ nhàng, thiết thực, không gây quá tải”.

psa-anh10-img-0319-3953.jpg
Cô Quàng Thị Xuân - Phó Hiệu trưởng Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Mường Lạn. Ảnh: NVCC

Theo cô Xuân, đối với các trường vùng cao, vùng sâu, vùng xa, hạn chế về đội ngũ, thiết bị và đường truyền Internet chắc chắn là một khó khăn, nhưng trường không coi đó là rào cản khiến học sinh vùng khó không thể tiếp cận AI và bị bỏ lại phía sau.

“Thực tế, học sinh vùng cao càng cần được tạo cơ hội tiếp cận công nghệ mới để thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng miền. Vấn đề quan trọng là chúng ta lựa chọn cách triển khai phù hợp với điều kiện thực tế.

Đối với trường chúng tôi, thuận lợi là trường nội trú mới thành lập, cơ sở vật chất cơ bản được bảo đảm, phần lớn các lớp đã có tivi. Vì vậy, trước mắt nhà trường sẽ tận dụng tối đa thiết bị hiện có, không nhất thiết mỗi học sinh phải có một máy tính hay một thiết bị riêng mới có thể học về AI. Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh quan sát, trải nghiệm trên thiết bị chung, làm việc theo nhóm và giải quyết những nhiệm vụ gần gũi với thực tế.

Bên cạnh đó, nhà trường sẽ chú trọng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, lựa chọn những giáo viên có năng lực công nghệ làm lực lượng nòng cốt để hỗ trợ đồng nghiệp; xây dựng và chia sẻ học liệu dùng chung và đồng thời tăng cường xã hội hóa, huy động các nguồn lực để từng bước bổ sung thiết bị và nâng cao chất lượng đường truyền Internet.

Quan điểm của chúng tôi là không chờ đủ điều kiện mới cho học sinh cơ hội tiếp cận giáo dục AI. Không để học sinh vùng cao bị đứng ngoài sự phát triển của công nghệ” - cô Xuân chia sẻ.

1787560919040-571534034207341945-571534034207341945-76ecf34d25296ea6b98af1d7d9c6193d.jpg
Một tiết Tin học của học sinh tiểu học tại tỉnh Sơn La. Ảnh: NVCC

Thầy Trần Văn Chiến - Hiệu trưởng một trường học tại xã Sốp Cộp, tỉnh Sơn La cho biết có hai khó khăn khi giảng dạy AI. Thứ nhất, nhiều giáo viên chưa thành thạo trong việc vận dụng các công cụ AI; kỹ năng sử dụng còn hạn chế, đặc biệt là khả năng xây dựng câu lệnh (prompt) chưa đủ chính xác và đầy đủ để tạo ra kết quả như mong muốn.

Thứ hai, hạ tầng công nghệ còn nhiều hạn chế, với đường truyền internet thiếu ổn định và các công cụ AI chủ yếu được sử dụng ở phiên bản miễn phí nên tính năng còn hạn chế.

Đến thời điểm này, nhà trường đã có những bước chuẩn bị cần thiết để triển khai nội dung giáo dục trí tuệ nhân tạo (AI) trong trường phổ thông từ năm học 2026-2027. Trước hết, nhà trường đã nghiên cứu kỹ các văn bản hướng dẫn của ngành giáo dục về việc đưa AI vào dạy học nhằm bảo đảm việc triển khai đúng định hướng và phù hợp với thực tiễn.

Các tổ chuyên môn được giao nhiệm vụ rà soát chương trình, xác định những nội dung có thể tích hợp AI một cách tự nhiên, vừa bảo đảm thực hiện đầy đủ yêu cầu cần đạt của chương trình, vừa tránh gây quá tải cho giáo viên và học sinh.

Nhà trường cũng chú trọng đầu tư, chuẩn bị cơ sở vật chất như phòng học vi tính, máy chiếu, tivi và hệ thống kết nối Internet; đồng thời lựa chọn hình thức triển khai và xây dựng các phương án tổ chức dạy học phù hợp với điều kiện thực tế của từng lớp học và từng điểm trường, tạo tiền đề thuận lợi cho việc ứng dụng AI trong dạy học.

Cũng theo thầy Chiến, giáo viên nên ưu tiên sử dụng một số công cụ AI phù hợp, dễ sử dụng, có phiên bản miễn phí và đáp ứng tốt mục tiêu dạy học, chú trọng khai thác hiệu quả các tính năng cơ bản thay vì phụ thuộc vào các tính năng nâng cao có trả phí.

Đặc biệt, giáo viên phải kiểm chứng kỹ nội dung do AI tạo ra, không sao chép một cách máy móc và tuyệt đối không đưa dữ liệu cá nhân hoặc thông tin nhạy cảm của học sinh lên các công cụ AI. Đây cũng là cơ sở quan trọng để giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng AI một cách an toàn, có trách nhiệm và hiệu quả.

1787578011262-7180024517138076467-7180024517138076467-907837750ac284ba6374e486bc198f4d.jpg
Các trường nội trú mới thành lập được trang bị phòng Tin học hiện đại. Ảnh: NVCC

Chú trọng giáo dục học sinh sử dụng AI an toàn, có tư duy phản biện

Cô Xuân bày tỏ, với học sinh tiểu học, mục tiêu quan trọng không phải là dạy các em sử dụng thật nhiều công cụ AI, mà trước hết phải giúp các em hiểu AI là gì, AI có thể giúp gì và giới hạn của AI ở đâu. Do đó, nhà trường sẽ triển khai theo nguyên tắc “AI là công cụ hỗ trợ, không thay thế tư duy và sự nỗ lực của học sinh”.

Chẳng hạn, giáo viên có thể cho học sinh xem một câu trả lời hoặc một bức tranh do AI tạo ra, sau đó yêu cầu các em quan sát, đặt câu hỏi: "Thông tin này có đúng hoàn toàn không? Có điểm nào chưa hợp lý? Chúng ta cần kiểm tra lại ở đâu?"

Qua những hoạt động như vậy, các em từng bước hình thành tư duy phản biện và hiểu rằng AI cũng có thể trả lời sai, vì vậy không được sao chép hoặc tin hoàn toàn vào kết quả do AI cung cấp.

Nhà trường cũng đặc biệt chú trọng giáo dục các em về an toàn và trách nhiệm khi sử dụng AI: không cung cấp thông tin cá nhân, hình ảnh riêng tư; không sử dụng AI để làm thay toàn bộ bài tập; biết tôn trọng bản quyền; biết kiểm chứng thông tin và trao đổi với thầy cô, cha mẹ khi gặp nội dung không phù hợp.

“Đặc biệt, với môi trường nội trú, nhà trường có điều kiện quản lý, hỗ trợ và đồng hành với học sinh cả trong học tập lẫn sinh hoạt. Vì vậy, chúng tôi hướng tới hình thành cho các em thói quen “tự suy nghĩ trước, sử dụng AI để hỗ trợ, kiểm tra lại kết quả và chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình”.

Tôi cho rằng, nếu những nguyên tắc này được giáo dục cho học sinh ngay từ bậc tiểu học, AI sẽ không khiến các em trở nên thụ động hay lười suy nghĩ. Ngược lại, nếu được sử dụng đúng cách, AI có thể trở thành công cụ hỗ trợ các em học tập, khám phá và phát huy khả năng sáng tạo” – cô chia sẻ.

Theo thầy Chiến, nhà trường xác định giáo dục AI không phải là dạy các em sử dụng càng nhiều công cụ AI càng tốt, mà là giúp các em hiểu AI, biết sử dụng AI đúng mục đích và quan trọng nhất là biết khi nào không nên sử dụng AI.

Với đặc thù học sinh của đơn vị, nhà trường sẽ triển khai giáo dục AI theo hướng thiết thực, vừa sức và gắn với các tình huống thực tế. Học sinh không nhất thiết phải sử dụng những công cụ AI phức tạp, mà quan trọng là hình thành các năng lực nền tảng như hiểu AI, biết sử dụng AI, đánh giá kết quả do AI tạo ra và sử dụng AI an toàn, có trách nhiệm.

Bên cạnh đó, nhà trường sẽ từng bước điều chỉnh phương pháp kiểm tra, đánh giá nhằm hạn chế tình trạng học sinh sử dụng AI làm thay. Các nhiệm vụ học tập sẽ được tăng cường theo hướng yêu cầu học sinh trình bày quá trình suy nghĩ, thực hành, giải thích, phản biện và bảo vệ sản phẩm. Qua đó, giáo viên có thể đánh giá chính xác hơn năng lực thực sự của học sinh, thay vì chỉ dựa vào sản phẩm cuối cùng.

Trần Trang