Theo dự kiến chương trình tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) sẽ được trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến lần đầu vào ngày 24/10/2026. Dự án luật này dự kiến sẽ được Quốc hội xem xét và thông qua tại Kỳ họp thứ 3 (tháng 05/2027).
Việc xây dựng dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thi hành Luật An toàn thực phẩm năm 2010.
Cụ thể hóa nguyên tắc phân cấp, phân quyền thống nhất một đầu mối
Dự thảo Luật quy định chung về an toàn thực phẩm; quyền và nghĩa vụ của cơ sở kinh doanh thực phẩm; điều kiện đối với thực phẩm; điều kiện đối với cơ sở kinh doanh thực phẩm; biện pháp quản lý an toàn thực phẩm; hoạt động thử nghiệm thực phẩm, giám định phục vụ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm; hệ thống thông tin về an toàn thực phẩm; truy xuất nguồn gốc về an toàn thực phẩm; thông tin, truyền thông về an toàn thực phẩm, quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.
Dự thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi gồm 8 chương, 71 Điều, bổ sung một số vấn đề như: Nguyên tắc áp dụng Luật để áp dụng trong trường hợp Luật An toàn thực phẩm và các Luật khác có xung đột pháp luật; Một số hành vi bị nghiêm cấm cho phù hợp với các văn bản pháp luật hiện hành và thực tiễn; Nghĩa vụ của doanh nghiệp khi kinh doanh theo phương thức thương mại điện tử và bổ sung điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm của các cơ sở giao đồ ăn trực tuyến; Nghĩa vụ của tổ chức cá nhân, cung cấp suất ăn tập thể không vì mục đích kinh doanh…
Về phân cấp, phân quyền, Dự thảo Luật đã cụ thể hóa nguyên tắc phân cấp, phân quyền thống nhất một đầu mối, quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm; Cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trung ương là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Phân quyền cho Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước trong phạm vi địa phương và giao Chính phủ quy định chi tiết trách nhiệm cụ thể của từng cấp.
Phân cấp tiếp nhận hồ sơ công bố và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm: giao Chính phủ quy định thẩm quyền cấp, gia hạn, thu hồi bản công bố sản phẩm và Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo hướng đẩy mạnh phân cấp tối đa cho cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện.
Như vậy, tại Dự thảo Luật này, Ban soạn thảo đề xuất Bộ Y tế là đầu mối chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại Trung ương, Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm trên địa bàn. Các bộ, ngành tiếp tục quản lý chuyên ngành theo lĩnh vực được phân công. Theo Ban soạn thảo, tư duy này khắc phục bất cập khi chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp và nhiều sản phẩm nằm ở vùng giao thoa giữa các lĩnh vực quản lý.
4 nhóm chính sách trọng tâm trong sửa đổi Luật An toàn thực phẩm
Các nội dung trọng tâm trong dự án Luật tập trung vào 4 nhóm chính sách, hướng tới đổi mới phương thức quản lý, kiểm soát nguy cơ hiệu quả hơn và phù hợp với sự phát triển của thị trường thực phẩm.
Thứ nhất, quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi.
Theo dự án Luật: Nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm theo hướng quản lý xuyên suốt. Cụ thể, quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi cung ứng được thực hiện trong suốt quá trình kinh doanh thực phẩm từ sản xuất ban đầu, trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, khai thác, giết mổ, chế biến, kinh doanh, lưu thông trên thị trường cho đến tận tay người tiêu dùng trên cơ sở phân tích nguy cơ trong từng khâu của chuỗi cung ứng thực phẩm nhằm đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc để đảm bảo an toàn thực phẩm cho người dân.
Thực phẩm được kiểm tra, giám sát trong suốt quá trình lưu thông trên thị trường. Đối với một số nhóm thực phẩm phải thực hiện đăng ký bản công bố sản phẩm, công bố tiêu chuẩn áp dụng trước khi lưu hành trên thị trường thì tiêu chuẩn do tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng không thấp hơn quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.
Quản lý an toàn thực phẩm bảo đảm thống nhất một đầu mối trên cơ sở phân công, phân cấp rõ ràng và phối hợp liên ngành.
Thứ hai, đổi mới công tác kiểm tra an toàn thực phẩm - phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm.
Đối tượng phải được phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm: Thực phẩm có tỷ lệ gây ngộ độc cao. Thực phẩm có kết quả lấy mẫu để giám sát cho thấy tỷ lệ vi phạm các quy chuẩn kỹ thuật ở mức cao. Môi trường, cơ sở kinh doanh thực phẩm bị nghi ngờ gây ô nhiễm. Thực phẩm, cơ sở kinh doanh thực phẩm được phân tích nguy cơ theo yêu cầu quản lý.
Việc phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm bao gồm các hoạt động về đánh giá, quản lý và truyền thông về nguy cơ đối với an toàn thực phẩm.
Việc quản lý nguy cơ đối với an toàn thực phẩm bao gồm: Thực hiện các giải pháp hạn chế nguy cơ an toàn thực phẩm trong từng công đoạn của chuỗi cung cấp thực phẩm; Kiểm soát, phối hợp nhằm hạn chế nguy cơ đối với an toàn thực phẩm trong kinh doanh dịch vụ ăn uống và các hoạt động kinh doanh thực phẩm khác.
Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý an toàn thực phẩm.
Ứng dụng công nghệ trong quản lý an toàn thực phẩm để bảo đảm minh bạch thông tin, truy xuất nguồn gốc, kết nối và chia sẻ dữ liệu trong toàn bộ vòng đời thực phẩm, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế số, kinh tế tuần hoàn và hội nhập quốc tế.
Ứng dụng công nghệ thông tin khi giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực thực phẩm.
Ứng dụng công nghệ (trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ số tiên tiến...) trong các hoạt động thử nghiệm, phân tích nguy cơ, phòng ngừa, ngăn chặn sự cố, khắc phục sự cố và truy xuất nguồn gốc, thu hồi xử lý sản phẩm không đảm bảo an toàn thực phẩm, kiểm tra đối với thực phẩm.
Quản lý chuỗi cung ứng thông qua mã số, mã vạch, truy xuất nguồn gốc, nhãn điện tử và nền tảng số; Thu thập, lưu trữ, phân tích dữ liệu phục vụ kiểm tra, kiểm tra sau lưu thông trên thị trường, thanh tra, cảnh báo và xử lý vi phạm.
Việc ứng dụng công nghệ số, nhãn điện tử, mã số, mã vạch và hệ thống truy xuất nguồn gốc phải bảo đảm an toàn, bảo mật dữ liệu trong toàn bộ quá trình thu thập, lưu trữ, xử lý và chia sẻ dữ liệu; phải tuân thủ nguyên tắc về bảo mật thông tin, quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu theo quy định của pháp luật.
Thứ tư, tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm đối với thức ăn đường phố và bếp ăn tập thể.
Thức ăn đường phố là thực phẩm được chế biến và/hoặc bày bán bởi những người bán hàng rong trên đường phố và các địa điểm công cộng khác để tiêu dùng ngay hoặc để sử dụng sau.
Điều kiện bảo đảm an toàn đối với thức ăn đường phố, nơi cung cấp suất ăn tập thể:
Phải cách biệt nguồn gây độc hại, nguồn gây ô nhiễm. Phải được bày bán trên bàn, giá, kệ, phương tiện bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.
Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với nguyên liệu, dụng cụ ăn uống, chứa đựng thực phẩm và người kinh doanh thức ăn đường phố, cung cấp suất ăn tập thể...
Trách nhiệm quản lý kinh doanh thức ăn đường phố, cung cấp suất ăn tập thể: Chính phủ quy định cụ thể điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong kinh doanh thức ăn đường phố, cung cấp suất ăn tập thể. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý hoạt động kinh doanh thức ăn đường phố, cung cấp suất ăn tập thể trên địa bàn.