Qua đợt rà soát toàn diện trong tháng 7/2026, Phòng An ninh Chính trị nội bộ (Công an thành phố Hà Nội) phát hiện Công ty cổ phần đào tạo AMES chi nhánh Hà Nội đang vận hành 14 cơ sở nhưng có tới 2 cơ sở hoạt động “chui” khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép. Đáng chú ý, kết quả đối soát hồ sơ cho thấy hệ thống này đã sử dụng 54/63 trường hợp giáo viên Việt Nam không đủ điều kiện, tiêu chuẩn tham gia giảng dạy tại các cơ sở…
Cùng với đó, qua khảo sát của phóng viên, cũng nổi lên một số vấn đề cần quan tâm như trung tâm ngoại ngữ tổ chức dạy học tại địa điểm chưa được cấp phép hoạt động như nêu trong bài viết: “Hà Nội: Sau phản ánh của Tạp chí, 1 cơ sở "chui" của Trung tâm ngoại ngữ Bee Plus bị dừng hoạt động”; hay có website nhưng trung tâm ngoại ngữ lại chỉ công khai tại bảng tin khiến việc tiếp cận, giám sát không thuận lợi:“Nhiều băn khoăn về công khai đảm bảo chất lượng dạy tiếng Anh, IEG phản hồi ra sao?”.
Từ thực tế này, nhiều chuyên gia, đại biểu Quốc hội cho rằng nên sửa đổi Thông tư 21/2018/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm ngoại ngữ, tin học, bổ sung thêm các quy định về công khai lên website hoặc các trang thông tin điện tử để cơ quan chức năng, xã hội giám sát.
Thông tin công khai cần chuyển từ “niêm yết tại trụ sở” sang dễ kiểm chứng trên môi trường số
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh - Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng cho biết, việc niêm yết thông tin công khai tại trụ sở trung tâm là cần thiết, nhưng nếu chỉ dừng lại ở phương thức này thì chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu minh bạch trong bối cảnh hiện nay.
“Đối với các trung tâm ngoại ngữ, tin học, phụ huynh và học viên thường tìm hiểu thông tin trên môi trường trực tuyến trước khi quyết định đăng ký. Nếu muốn kiểm tra những thông tin cơ bản này mà người học phải trực tiếp đến trụ sở trung tâm thì việc công khai vô hình trung tạo thêm một rào cản tiếp cận.
Trong bối cảnh giáo dục có sự tham gia của nhiều tổ chức, doanh nghiệp, thông tin về điều kiện hoạt động và chất lượng đào tạo không chỉ phục vụ công tác quản lý nhà nước mà còn là căn cứ để người học lựa chọn dịch vụ và giám sát việc thực hiện các cam kết của cơ sở đào tạo”, bà Tú Anh cho hay.
Từ góc độ đó, Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh cho rằng cần chuyển cách tiếp cận mang tính hình thức sang công khai theo hướng dễ tiếp cận, dễ kiểm chứng và có trách nhiệm cập nhật. Việc niêm yết thông tin công khai tại trụ sở vẫn nên được duy trì nhưng cần bổ sung phương thức công khai trên môi trường số, đồng thời quy định cụ thể về nội dung phải công bố, thời điểm công bố và trách nhiệm cập nhật khi thông tin có thay đổi.
Khoản 8, Điều 3, Thông tư số 21/2018/TT-BGDĐT về nhiệm vụ và quyền hạn của trung tâm ngoại ngữ, tin học: Công khai các Điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục.
Hiện nay, một số điều trong Thông tư 21 đã quy định việc công khai thông tin về điều kiện đảm bảo chất lượng của trung tâm ngoại ngữ, tin học và các nội dung liên quan. Tuy nhiên, các quy định về phương thức công khai và khả năng kiểm chứng thông tin vẫn cần được cụ thể hóa hơn.
Đồng thời, Thông tư nên được sửa đổi theo hướng bắt buộc các trung tâm ngoại ngữ, tin học thực hiện công khai thông tin trên môi trường số; quy định rõ trách nhiệm của trung tâm đối với tính chính xác, đầy đủ và kịp thời của những thông tin được công bố.
Tuy nhiên, khi đặt ra yêu cầu công khai trên môi trường số cũng cần tính đến thực tế không phải trung tâm nào cũng có điều kiện xây dựng và duy trì website riêng. Vì vậy, có thể quy định theo hướng cho phép trung tâm sử dụng website chính thức, trang thông tin điện tử của đơn vị hoặc một hệ thống công khai tập trung do cơ quan quản lý tổ chức. Điều quan trọng là người học phải có một địa chỉ chính thức, rõ ràng, dễ tìm kiếm để tra cứu và đối chiếu thông tin.
Theo Khoản 2, Điều 13 Thông tư số 21/2018/TT-BGDĐT quy định: Giám đốc trung tâm ngoại ngữ, tin học chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước cơ quan quản lý giáo dục về nội dung chương trình, tài liệu dạy học tại trung tâm; đồng thời có trách nhiệm báo cáo giám đốc sở giáo dục và đào tạo các chương trình, tài liệu dạy học được sử dụng tại trung tâm.
Bà Tú Anh cho rằng, nếu nghĩa vụ này chỉ dừng ở việc báo cáo cho cơ quan quản lý mà chưa đi kèm cơ chế công khai và đối chiếu phù hợp, phụ huynh, học sinh sẽ rất khó biết trung tâm đang sử dụng chương trình, học liệu nào, nguồn gốc ra sao và liệu nội dung thực tế có đúng với những gì trung tâm đã giới thiệu hay không.
“Đối với những chương trình, tài liệu thuộc diện phải báo cáo nên thiết lập cơ chế để cơ quan quản lý xác nhận việc tiếp nhận, kiểm chứng nội dung và cập nhật tình trạng báo cáo trên hệ thống dữ liệu. Cách làm này giúp phân biệt rõ đâu là thông tin do trung tâm tự công bố và đâu là thông tin đã được cơ quan quản lý tiếp nhận, kiểm tra hoặc xác nhận, qua đó nâng cao giá trị kiểm chứng của dữ liệu.
Ngoài ra, nếu trung tâm quảng bá một chương trình nhưng quá trình giảng dạy thực tế lại sử dụng chương trình khác, người học cần có cơ sở để phát hiện, phản ánh; đồng thời cơ quan quản lý cũng cần có dữ liệu để kiểm tra, xác minh. Khi đó, việc công khai không chỉ đáp ứng quyền được biết của phụ huynh, học sinh mà còn trở thành một cơ chế giúp tăng trách nhiệm giải trình của trung tâm, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu trong tổ chức và bảo đảm chất lượng hoạt động đào tạo”, bà Trịnh Thị Tú Anh bày tỏ.
Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An - Đại biểu Quốc hội khoá XIII cho biết, nếu quy định chỉ dừng ở việc niêm yết thông tin tại trụ sở trung tâm thì khả năng tiếp cận của xã hội sẽ rất hạn chế.
Bởi trên thực tế, không phải phụ huynh, học sinh hay người có nhu cầu đăng ký học nào cũng có điều kiện trực tiếp đến trung tâm chỉ để tìm hiểu những thông tin cơ bản về giấy phép hoạt động, chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên hay các điều kiện bảo đảm chất lượng. Trong khi đó, mục đích của việc công khai là để những đối tượng có nhu cầu biết và có thể sử dụng thông tin đó để lựa chọn, giám sát, đối chiếu, chứ không chỉ đơn thuần đáp ứng yêu cầu rằng trung tâm đã thực hiện việc niêm yết.
“Theo tôi, cần quy định rõ hơn không chỉ về nội dung mà cả địa điểm và phương thức công khai. Ngoài việc tiếp tục niêm yết tại trụ sở trung tâm, những thông tin cần thiết nên được công khai trên trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý và website chính thức của trung tâm. Đây là những kênh mà phụ huynh, học sinh và các đối tượng quan tâm có thể tiếp cận thuận tiện hơn. Khi thông tin được đưa lên môi trường số, người học có thể chủ động tra cứu từ xa, đối chiếu giữa thông tin trung tâm công bố với thông tin do cơ quan quản lý cung cấp, thay vì phải đến trực tiếp từng trung tâm để kiểm tra.
Trung tâm phải chịu trách nhiệm về những thông tin mình công bố trên website, trong khi cơ quan quản lý có thể cung cấp hoặc xác nhận những thông tin thuộc phạm vi quản lý như tình trạng cấp phép, phạm vi hoạt động hoặc các thay đổi liên quan đến quá trình hoạt động của trung tâm. Khi có nhiều nguồn thông tin chính thức để đối chiếu, khả năng phát hiện những nội dung không thống nhất hoặc thông tin đã thay đổi nhưng chưa được cập nhật cũng sẽ tốt hơn”, Phó Giáo sư Bùi Thị An nêu quan điểm.
Mục tiêu cuối cùng là thông tin phải được công khai ở những nơi mà các đối tượng cần biết có thể dễ dàng tiếp cận. Với cơ quan quản lý, đó là cơ sở để theo dõi và giám sát hoạt động của trung tâm; với phụ huynh và học sinh, đó là căn cứ để tìm hiểu, lựa chọn và phản ánh khi phát hiện vấn đề; còn với xã hội, đó là điều kiện để có thể theo dõi việc thực hiện các quy định và cam kết của cơ sở giáo dục.
Còn theo ông Lê Như Tiến - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội (nay là Ủy ban Văn hóa và Xã hội), một trong những nội dung cần được quan tâm là việc công khai thông tin liên quan đến đội ngũ giáo viên nước ngoài tại các trung tâm ngoại ngữ.
Thực tế, không ít trung tâm quảng bá đội ngũ “100% giáo viên người nước ngoài” hoặc nhấn mạnh yếu tố giáo viên bản ngữ để thu hút học viên. Tuy nhiên, điều quan trọng là trung tâm phải công khai đầy đủ thông tin để người học và phụ huynh có cơ sở kiểm chứng về trình độ, chuyên môn và năng lực giảng dạy của những giáo viên này.
Đặc biệt, đối với giáo viên nước ngoài, việc chỉ dựa vào yếu tố “người nước ngoài” hay khả năng sử dụng tiếng Anh không thể đồng nghĩa với việc người đó có đủ năng lực sư phạm. Một người có thể sử dụng tiếng Anh tốt nhưng chưa chắc đã được đào tạo về sư phạm hoặc có kinh nghiệm giảng dạy. Vì vậy, cần công khai rõ họ tên, quá trình đào tạo, trình độ học vấn, trường đại học đã theo học, chuyên môn và các chứng chỉ liên quan đến hoạt động giảng dạy.
Ông Lê Như Tiến cho rằng, có trường hợp một số trung tâm thuê người nước ngoài chủ yếu để tạo môi trường giao tiếp hoặc hỗ trợ học viên làm quen với cách phát âm, ngữ điệu của ngôn ngữ bản địa. Điều này có thể mang lại giá trị nhất định trong quá trình học ngoại ngữ, nhưng nếu người đó trực tiếp đảm nhiệm hoạt động giảng dạy thì vẫn cần xác định rõ trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm.
“Không thể chỉ vì một người là người nước ngoài, biết tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc một ngoại ngữ khác mà mặc nhiên được xem là giáo viên có đủ năng lực. Dù họ đến từ quốc gia nào, nếu tham gia giảng dạy thì vẫn cần đáp ứng những yêu cầu nhất định về trình độ, chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm. Việc công khai những thông tin này sẽ giúp phụ huynh, học viên có thêm căn cứ để đánh giá chất lượng đội ngũ giáo viên thay vì chỉ dựa vào quảng cáo của trung tâm”, ông Lê Như Tiến phân tích.
Xây dựng cơ sở dữ liệu để người học, xã hội dễ kiểm chứng thông tin
Từ những yêu cầu về việc công khai thông tin đảm bảo chất lượng của cơ sở đào tạo, bà Trịnh Thị Tú Anh cho rằng việc xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung về các trung tâm ngoại ngữ, tin học được cấp phép cũng là giải pháp cần thiết.
Hệ thống dữ liệu được xây dựng và cập nhật đầy đủ sẽ giúp người học dễ dàng kiểm tra một trung tâm có được cấp phép hay không, phạm vi hoạt động, thời hạn giấy phép và các thông tin cơ bản liên quan đến điều kiện bảo đảm chất lượng. Khi thông tin được chuẩn hóa và đặt trên một hệ thống chính thức, việc đối chiếu giữa dữ liệu do trung tâm công bố với thông tin quản lý nhà nước cũng thuận lợi hơn.
Ở góc độ quản lý, cơ sở dữ liệu tập trung giúp cơ quan chức năng có cái nhìn đầy đủ hơn về hệ thống các trung tâm đang hoạt động, theo dõi tình trạng giấy phép và những thay đổi liên quan đến địa điểm, chương trình, đội ngũ hoặc điều kiện bảo đảm chất lượng. Qua đó, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm có thêm một cơ sở dữ liệu thống nhất.
Quan trọng hơn, việc xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung sẽ góp phần hình thành cơ chế minh bạch, trong đó trách nhiệm được phân bổ rõ hơn cho cơ sở giáo dục và cơ quan quản lý. Khi người học có thể kiểm tra thông tin từ một nguồn chính thức trước khi đăng ký, tính minh bạch của hoạt động đào tạo sẽ được tăng cường, đồng thời tạo thêm động lực để các trung tâm thực hiện nghiêm túc trách nhiệm giải trình của mình.
Tuy nhiên, xây dựng cơ sở dữ liệu không nên được hiểu đơn thuần là tập hợp thông tin từ nhiều nguồn vào một hệ thống. Quan trọng hơn là phải xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong việc nhập liệu, kiểm tra, xác nhận và cập nhật dữ liệu, đồng thời thiết lập cơ chế kết nối, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan có liên quan.
Đối với những dữ liệu có giá trị pháp lý, nguồn cập nhật cần được xác định rõ và ưu tiên sử dụng dữ liệu chính thức từ cơ quan có thẩm quyền, thay vì chỉ dựa vào thông tin do trung tâm tự kê khai rồi mặc nhiên xem đó là thông tin đã được xác nhận.
Dù vậy, cần nhìn nhận cơ sở dữ liệu tập trung là công cụ hỗ trợ và không thể thay thế hoạt động thanh tra, kiểm tra trực tiếp. Giá trị của hệ thống nằm ở việc cung cấp dữ liệu tương đối đầy đủ, thống nhất và có khả năng cập nhật, qua đó giúp cơ quan quản lý nhận diện vấn đề sớm hơn và tổ chức thanh tra, kiểm tra theo hướng có trọng tâm, thay vì chủ yếu dựa vào việc kiểm tra dàn trải hoặc xử lý khi đã phát sinh phản ánh.
Tạo ra một “hàng rào kỹ thuật” minh bạch, giúp các cơ quan chức năng dễ dàng hậu kiểm
Trao đổi về vấn đề quản lý và nâng cao chất lượng hoạt động của các trung tâm ngoại ngữ, tin học hiện nay, ông Nguyễn Thanh Hiền - nguyên Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An, Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Nghệ An bày tỏ sự đồng tình và nhấn mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu, sửa đổi Thông tư số 21/2018/TT-BGDĐT.
Theo ông Nguyễn Thanh Hiền, trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, việc bổ sung các quy định bắt buộc các trung tâm và công ty hoạt động trong lĩnh vực đào tạo ngoại ngữ, tin học phải công khai toàn bộ thông tin lên website hoặc các nền tảng điện tử chính thức là một bước đi tất yếu nhằm siết chặt kỷ cương quản lý nhà nước.
“Việc chuẩn hóa và đưa các thông tin cốt lõi, như: giấy phép hoạt động, đội ngũ giáo viên, chương trình giảng dạy, học phí, cam kết chất lượng và các điều kiện cơ sở vật chất lên môi trường số sẽ mang lại nhiều giá trị thiết thực.
Trước hết, điều này tạo ra một “hàng rào kỹ thuật” minh bạch, giúp các cơ quan chức năng dễ dàng hậu kiểm, giám sát, đồng thời loại bỏ kịp thời các cơ sở “chui”, hoạt động không phép hoặc kém chất lượng.
Đối với người học và các bậc phụ huynh, việc tiếp cận thông tin đầy đủ, rõ ràng sẽ là cơ sở quan trọng để đưa ra lựa chọn sáng suốt, tìm được môi trường giáo dục uy tín và phù hợp với nhu cầu thực tế.
Quan trọng hơn, cơ chế công khai này không chỉ bảo vệ tối đa quyền lợi chính đáng của người học, mà còn tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy các đơn vị đào tạo uy tín không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ.
Qua đó, cơ chế này không chỉ loại bỏ kịp thời các cơ sở kém chất lượng, bảo vệ tối đa quyền lợi chính đáng của người học, mà còn kiến tạo một môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy toàn bộ hệ thống phát triển bền vững và chuyên nghiệp hơn” -ông Hiền phân tích.
Song song với việc yêu cầu các trung tâm/công ty này tự công khai trên các nền tảng số của chính đơn vị, ông Hiền cho rằng, cũng cần có một hệ thống chung từ phía cơ quan quản lý để các đơn vị cùng thực hiện công khai chi tiết. Như vậy, với những trung tâm/công ty chưa xây dựng website cũng có thể cập nhật thông tin lên môi trường số để giới thiệu đến người học, đến xã hội.
Bên cạnh đó, Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Nghệ An cũng đồng tình với ý kiến đề xuất của một số chuyên gia: nên xem xét, bổ sung điều khoản liên quan đến công tác kiểm định đối với các trung tâm/công ty hoạt động trong lĩnh vực này.
Cụ thể, ông Hiền chỉ ra: “Để thuận lợi hơn trong công tác quản lý, có thể xem xét sửa đổi Thông tư 21 theo hướng bổ sung các quy định về công tác kiểm định đối với các trung tâm, công ty hoạt động trong lĩnh vực ngoại ngữ, tin học.
Việc đưa “văn hóa kiểm định” vào hệ thống các trung tâm/công ty ngoại ngữ, tin học mang lại nhiều ưu điểm trong công tác quản lý chất lượng giáo dục.
Khi có bộ tiêu chuẩn kiểm định rõ ràng, các cơ quan quản lý nhà nước sẽ có thêm công cụ khách quan, chuẩn hóa để đánh giá năng lực thực tế của cơ sở đào tạo, thay vì chỉ quản lý dựa trên các điều kiện thành lập ban đầu.
Ở chiều ngược lại, về phía các trung tâm/công ty, việc chủ động thực hiện kiểm định và chuẩn hóa quy trình không chỉ khẳng định uy tín, thương hiệu, mà còn tạo động lực nội tại để không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đổi mới chương trình và hoàn thiện cơ sở vật chất”.