EMagazine

Tổng thu tiệm cận 1.000 tỷ đồng, Trường Đại học Y Hà Nội chi lương, thu nhập cho đội ngũ ra sao?

Tổng thu tiệm cận 1.000 tỷ đồng, Trường Đại học Y Hà Nội chi lương, thu nhập cho đội ngũ ra sao?

24/07/2026 06:22
Doãn Nhàn
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Quy mô tổng thu của Trường Đại học Y Hà Nội tăng trưởng liên tục với tốc độ trên 30% trong hai năm gần đây. Cụ thể, từ 541 tỷ đồng năm 2023, tổng thu tăng lên 721 tỷ đồng năm 2024 (33,3%) và tiếp tục đạt 943 tỷ đồng năm 2025 (30,8%).

Năm học 2024-2025 là năm đầu tiên các cơ sở giáo dục đại học thực hiện công khai theo hình thức mới thông qua Báo cáo thường niên, tích hợp các nội dung đối sánh với Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT và biểu mẫu công khai theo Thông tư số 09/2024/TT-BGDĐT.

Đến năm học 2025-2026, các trường tiếp tục duy trì, chuẩn hóa việc công khai theo 6 tiêu chuẩn gồm: tổ chức và quản trị; giảng viên; cơ sở vật chất; tài chính; tuyển sinh và đào tạo; nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.

Theo Báo cáo thường niên năm 2026 do Hiệu trưởng Nguyễn Hữu Tú ký ngày 30/6/2026, một trong những kết quả nổi bật Trường Đại học Y Hà Nội đạt được trong năm là tăng 10% thu nhập tăng thêm cho cán bộ, viên chức và người lao động.

Tổng thu tăng trên 30%/năm, chi cho lương, thu nhập và cơ sở vật chất gần ngang nhau

ddh-nghin-ty-3.png

Theo số liệu tài chính công khai từ Báo cáo thường niên năm 2025 và 2026, tổng thu hoạt động của Trường Đại học Y Hà Nội duy trì mức tăng trưởng trên 30% trong hai năm liên tiếp.

Cụ thể, từ 541 tỷ đồng năm 2023, tổng thu tăng lên 721 tỷ đồng năm 2024 (33,3%) và tiếp tục đạt 943 tỷ đồng năm 2025 (30,8%). Tính chung giai đoạn 2023-2025, tổng thu tăng 402 tỷ đồng.

Trong cơ cấu nguồn thu, hoạt động giáo dục và đào tạo tiếp tục là nguồn thu chủ lực. Năm 2025, nguồn thu này chiếm khoảng 75,5% tổng thu. Trong khi đó, hoạt động khoa học và công nghệ đóng góp 14,21% tổng thu.

Đối với chỉ số đánh giá theo Chuẩn cơ sở giáo dục đại học quy định tại Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT, tỷ trọng thu từ các hoạt động khoa học và công nghệ trên tổng thu được xác định theo giá trị trung bình của ba năm gần nhất. Theo cách tính này, chỉ số của Trường Đại học Y Hà Nội năm 2025 đạt 18,2%, giảm so với mức 21,1% của năm 2024 nhưng vẫn cao hơn đáng kể ngưỡng tối thiểu 5% theo quy định.

15.png

Tổng chi hoạt động của nhà trường đạt khoảng 799 tỷ đồng, tương đương gần 85% tổng thu.

Đáng chú ý, cơ cấu chi cho lương, thu nhập và cơ sở vật chất, dịch vụ gần như tương đương nhau.

Cụ thể, nhà trường dành 378 tỷ đồng để chi lương, thu nhập, chiếm 47,31% tổng chi; trong khi chi cho cơ sở vật chất, dịch vụ đạt 375 tỷ đồng, chiếm 46,93% tổng chi.

So với năm 2024, tỷ trọng hai khoản chi này không có nhiều biến động. Năm 2024, chi lương, thu nhập chiếm 47,52% tổng chi, còn chi cơ sở vật chất chiếm 49,53%.

Xét về giá trị tuyệt đối, cả hai khoản chi đều tăng. Riêng chi lương, thu nhập tăng từ 306 tỷ đồng năm 2024 lên 378 tỷ đồng năm 2025, tăng 72 tỷ đồng, tương đương 23,5%.

Gần một nửa giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên

tong-so-giang-vien-toan-thoi-gian.png

Năm 2025, Trường Đại học Y Hà Nội có 877 giảng viên toàn thời gian, trong đó 94,75% là giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động.

Về trình độ chuyên môn, trường có: 406 giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên, chiếm 46,29% tổng số giảng viên; trong đó có 148 phó giáo sư và 22 giáo sư; 437 giảng viên có trình độ thạc sĩ, chiếm 49,83%; 34 giảng viên có trình độ đại học, chiếm khoảng 3,88%.

Như vậy, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên cao hơn 6,29% so với mức tối thiểu 40% theo yêu cầu của Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT đối với cơ sở giáo dục đại học có đào tạo tiến sĩ (không thuộc nhóm ngành đặc thù).

Công bố WoS, Scopus tăng hơn 33%

16.png

Trong hoạt động khoa học và công nghệ, số công bố khoa học bình quân đạt 1,8 công bố/giảng viên, gấp 3 lần mức tối thiểu 0,6 công bố/giảng viên theo quy định của Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT.

Đối với công bố quốc tế, số công bố WoS, Scopus bình quân đạt 0,6 công bố/giảng viên, gấp 2 lần yêu cầu tối thiểu 0,3 công bố/giảng viên.

Trong năm 2025, nhà trường triển khai 301 đề tài nghiên cứu khoa học với tổng kinh phí hơn 134 tỷ đồng.

Trong đó: 232 đề tài cấp cơ sở, chiếm khoảng 77,1% tổng số đề tài; 30 đề tài hợp tác quốc tế, chiếm gần 10%; 20 đề tài cấp bộ, cấp tỉnh, chiếm khoảng 6,6%; 13 đề tài hợp tác doanh nghiệp trong nước, chiếm khoảng 4,3%; 6 đề tài cấp nhà nước, chiếm khoảng 2%.

Chi tiết các đề tài nghiên cứu khoa học thực hiện trong năm, theo Báo cáo thường niên năm 2025, Trường Đại học Y Hà Nội.
Chi tiết các đề tài nghiên cứu khoa học thực hiện trong năm, theo Báo cáo thường niên năm 2025, Trường Đại học Y Hà Nội.

Về kết quả công bố khoa học, năm 2025, trường có 1.072 bài báo khoa học được Hội đồng Giáo sư Nhà nước công nhận ngoài danh mục WoS, Scopus, tăng 60 bài, tương đương khoảng 5,9% so với năm 2024.

Đáng chú ý, tổng số công bố WoS, Scopus đạt 491, tăng 122 công bố so với mức 369 của năm 2024, tương ứng mức tăng khoảng 33%.

Kết quả công bố khoa học, công nghệ, theo Báo cáo thường niên năm 2025, Trường Đại học Y Hà Nội.
Kết quả công bố khoa học, công nghệ, theo Báo cáo thường niên năm 2025, Trường Đại học Y Hà Nội.

Về chuyển giao tri thức và chuyển giao công nghệ, Trường Đại học Y Hà Nội ghi nhận 2 kết quả, đều liên quan đến công thức pha chế nước súc miệng có thành phần Chlorhexidine và công thức pha chế nước súc miệng.

Kết quả chuyển giao tri thức, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ khởi nghiệp
Kết quả chuyển giao tri thức, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ khởi nghiệp

Người học sau đại học chiếm hơn 22% quy mô đào tạo

Quy mô đào tạo, tuyển mới và tốt nghiệp trong năm, theo Báo cáo thường niên năm 2026, Trường Đại học Y Hà Nội.
Quy mô đào tạo, tuyển mới và tốt nghiệp trong năm, theo Báo cáo thường niên năm 2026, Trường Đại học Y Hà Nội.

Năm 2025, quy mô đào tạo của Trường Đại học Y Hà Nội đạt 14.230 người học, trong đó tuyển mới 5.406 người và có 4.271 người tốt nghiệp.

Trong tổng quy mô đào tạo, người học sau đại học (thạc sĩ và tiến sĩ) đạt 3.162 người, chiếm khoảng 22,22% tổng số người học toàn trường.

Báo cáo cũng cho thấy tỷ lệ nhập học trung bình trong 3 năm gần đây đạt trên 90%, trong khi tỷ lệ thôi học và thôi học năm thứ nhất đều dưới 1%. Tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn đạt gần 90%.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến đối với dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Chuẩn cơ sở giáo dục đại học, dự kiến có hiệu lực từ tháng 8/2026 và thay thế Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT ngày 5/2/2024.

Một điểm mới của dự thảo là lần đầu tiên bổ sung hệ thống chỉ số riêng đối với lĩnh vực Sức khỏe tại Phụ lục III nhằm làm căn cứ đánh giá chất lượng các cơ sở giáo dục đại học đào tạo khối ngành này.

Theo dự thảo, các cơ sở giáo dục đại học có đào tạo ngành thuộc lĩnh vực Sức khỏe phải đáp ứng 6 ngưỡng tối thiểu chung, gồm:

  • 100% người học được bố trí cơ sở thực hành theo đúng chương trình đào tạo;
  • Ít nhất 80% giảng viên trực tiếp giảng dạy thực hành hoặc lâm sàng có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề còn hiệu lực;
  • Tối thiểu 30% giảng viên kiêm nhiệm đang công tác tại các cơ sở thực hành như bệnh viện, viện nghiên cứu tham gia giảng dạy;
  • 100% chương trình đào tạo có ít nhất một cơ sở thực hành ký kết hợp tác ổn định với thời hạn từ 5 năm trở lên;
  • Tối thiểu 30% đề tài nghiên cứu khoa học có kết quả được ứng dụng vào thực tiễn trong chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh, phục hồi chức năng hoặc y tế dự phòng;
  • Ít nhất 80% học phần thực hành được đánh giá theo chuẩn năng lực nghề nghiệp hoặc năng lực hành nghề tương ứng.

Bên cạnh các chỉ số chung, dự thảo cũng xây dựng bộ tiêu chí định lượng riêng đối với từng nhóm ngành đào tạo chuyên sâu trong lĩnh vực Sức khỏe, gồm: Y khoa và Y học cổ truyền; Răng - Hàm - Mặt; Điều dưỡng và Hộ sinh; Dược học; Y tế công cộng; Kỹ thuật y học (Xét nghiệm, Hình ảnh, Gây mê hồi sức...).

Doãn Nhàn