Sau hơn một năm sáp nhập (tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum thành tỉnh Quảng Ngãi), ngành giáo dục tỉnh đã chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp: từ kiện toàn bộ máy, sắp xếp lại mạng lưới trường lớp cho đến giữ vững chất lượng dạy và học, tạo nền tảng vững chắc cho chặng đường phía trước.
Phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Ngọc Thái - Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ngãi về những kết quả đạt được của ngành giáo dục sau hơn 1 năm thực hiện sáp nhập tỉnh và những định hướng trong năm học 2026-2027.
Ngành giáo dục Quảng Ngãi đạt nhiều kết quả nổi bật sau hơn 1 năm sáp nhập
Ông Nguyễn Ngọc Thái - Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ngãi cho biết, năm đầu tiên thực hiện chủ trương sáp nhập, Sở đã kiện toàn bộ máy, bảo đảm sự ổn định và duy trì sự thông suốt trong mọi hoạt động của ngành giáo dục. Đến nay, có thể khẳng định mục tiêu này đã cơ bản đạt được. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy được thực hiện ổn định, không làm gián đoạn hoạt động dạy và học. Đội ngũ cán bộ, giáo viên nhanh chóng thích ứng với mô hình quản lý mới, tạo nền tảng để ngành tập trung nâng cao chất lượng giáo dục và triển khai các nhiệm vụ đổi mới theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW (Nghị quyết 71) của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Dựa trên sự ổn định đó, ngành giáo dục tỉnh Quảng Ngãi sau sáp nhập đã đạt được nhiều kết quả nổi bật. Công tác chuyển đổi số tiếp tục được đẩy mạnh, 100% cơ sở giáo dục đủ điều kiện tổ chức dạy học trực tuyến hoặc kết hợp; nhiều thủ tục hành chính được thực hiện trên môi trường số; học bạ điện tử, hồ sơ số, chữ ký số được triển khai hiệu quả. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên cũng được bồi dưỡng về năng lực số và tiếp cận giáo dục trí tuệ nhân tạo (AI).
Cùng với đó, ngành giáo dục tỉnh cũng tập trung triển khai hiệu quả Chương trình giáo dục phổ thông 2018; đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh; đẩy mạnh giáo dục STEM, STEAM, giáo dục hướng nghiệp, chuyển đổi số và từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
Nhờ sự triển khai đồng bộ các giải pháp, chất lượng giáo dục mũi nhọn của tỉnh tiếp tục được giữ vững và đạt được nhiều thành tích cao, điển hình là tại Kì thi chọn học sinh giỏi Quốc gia năm học 2025-2026, tỉnh có 72/180 thí sinh đoạt giải. Bên cạnh đó, tại các sân chơi lớn trong khu vực, hai trường chuyên của tỉnh đều đạt thành tích cao, ghi dấu ấn mạnh mẽ.
Cụ thể, tại Kỳ thi Olympic truyền thống 30/4 lần thứ 30 năm 2026, học sinh Trường Trung học phổ thông Chuyên Lê Khiết đạt 51 huy chương; gồm: 23 huy chương Vàng, 17 huy chương Bạc, 11 huy chương Đồng và học sinh Trường Trung học phổ thông Chuyên Nguyễn Tất Thành đạt 49 huy chương; gồm: 12 huy chương Vàng, 21 huy chương Bạc, 16 huy chương Đồng.
Tại Kỳ thi chọn học sinh giỏi vùng Duyên hải và Đồng bằng Bắc Bộ, học sinh Trường Trung học phổ thông Chuyên Lê Khiết cũng xuất sắc mang về 47 giải thưởng, gồm 1 huy chương Vàng, 12 huy chương bạc, 15 huy chương đồng và 19 giải Khuyến khích. Đối với Cuộc thi nghiên cứu khoa học kỹ thuật cấp quốc gia, học sinh Quảng Ngãi có 5/6 dự án đạt giải. Không chỉ gặt hái thành công ở giáo dục mũi nhọn, chất lượng giáo dục đại trà của tỉnh cũng được giữ vững và nâng lên, thể hiện rõ qua Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 khi tỷ lệ đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 97,9%, xếp thứ 16/34 tỉnh, thành (tăng 4 bậc so với năm 2025).
Theo ông Thái, sau sáp nhập, ngành giáo dục Quảng Ngãi có nhiều thuận lợi trong quá trình tổ chức và triển khai các nhiệm vụ. Thuận lợi lớn nhất là được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xuyên suốt của lãnh đạo tỉnh, sự ổn định của bộ máy quản lý, chỉ đạo, điều hành của ngành đã cơ bản được kiện toàn và nhanh chóng đi vào hoạt động ổn định, bảo đảm các hoạt động giáo dục diễn ra liên tục, không bị gián đoạn; công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành và địa phương ngày càng chặt chẽ và thuận lợi.
Tuy nhiên, ngành giáo dục tỉnh cũng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: địa bàn rộng, điều kiện kinh tế - xã hội giữa các khu vực còn chênh lệch lớn; nhiều xã miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới có điều kiện đi lại khó khăn, quy mô trường lớp phân tán.
Hơn nữa, cơ sở vật chất giữa các địa phương chưa đồng đều; nhiều trường học còn thiếu phòng bộ môn, thiết bị dạy học và công trình phụ trợ. Đến nay, những khó khăn bước đầu đã được tập trung xử lý và đạt một số kết quả tích cực, cụ thể:
Về mạng lưới trường, lớp, hoạt động của các cơ sở giáo dục được duy trì ổn định, không làm gián đoạn việc dạy và học; việc rà soát, sắp xếp mạng lưới trường, lớp tiếp tục được thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.
Về đội ngũ nhà giáo, Sở thường xuyên rà soát, bố trí, điều động, thuyên chuyển giáo viên giữa các đơn vị để khắc phục tình trạng thừa, thiếu cục bộ; đồng thời tham mưu tuyển dụng bổ sung giáo viên theo biên chế được giao.
Về cơ sở vật chất, tiếp tục ưu tiên nguồn lực đầu tư xây dựng, sửa chữa trường học, bổ sung thiết bị dạy học, đặc biệt tại các địa bàn khó khăn và các trường phổ thông nội trú liên cấp ở khu vực biên giới.
Về nguồn lực tài chính, ngân sách cho giáo dục được bảo đảm theo quy định; đồng thời tỉnh lồng ghép hiệu quả các nguồn vốn đầu tư công, các chương trình mục tiêu quốc gia và huy động các nguồn lực hợp pháp khác để ưu tiên đầu tư cho giáo dục.
Toàn tỉnh còn thiếu 1.587 giáo viên, thực hiện nhiều giải pháp để khắc phục
Theo Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ngãi, sau khi sáp, địa bàn quản lý giáo dục của tỉnh rộng hơn, nhiều trường học ở miền núi, biên giới và hải đảo còn gặp khó khăn trong việc thu hút, ổn định đội ngũ giáo viên. Theo rà soát, hiện nay toàn tỉnh còn thiếu 1.587 giáo viên (mầm non: 608; tiểu học: 274, trung học cơ sở: 534, trung học phổ thông: 171).
Để khắc phục tình trạng này, Sở Giáo dục và Đào tạo đang khẩn trương xây dựng kế hoạch tuyển dụng giáo viên cho năm học 2026-2027, ưu tiên bổ sung đội ngũ ở những cấp học, môn học và địa bàn còn thiếu giáo viên. Đồng thời, Sở xây dựng phương án sắp xếp các đơn vị, cơ sở giáo dục trên toàn tỉnh, trong đó có việc sắp xếp, điều động, thuyên chuyển, biệt phái giáo viên giữa các đơn vị; các xã xây dựng phương án phối hợp để giáo viên có thể dạy liên trường trên địa bàn xã lân cận.
Một buổi học tại trường mầm non vùng cao của tỉnh Quảng Ngãi. Ảnh: quangngai.edu.vn
Cũng theo ông Thái, việc tỉnh Quảng Ngãi có điều kiện tự nhiên đa dạng, với địa bàn rộng, bao gồm vùng đồng bằng, miền núi, biên giới và hải đảo vừa là lợi thế, nhưng cũng đặt ra yêu cầu rất lớn trong việc bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục, nhất là đối với học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và vùng đặc biệt khó khăn.
Quan điểm xuyên suốt của ngành giáo dục tỉnh là không để học sinh vì điều kiện địa lý hay hoàn cảnh kinh tế mà bị hạn chế cơ hội học tập, đồng thời đây cũng là tinh thần được xác định trong Nghị quyết 71. Để thực hiện mục tiêu đó, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh đã tham mưu Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo triển khai nhiều giải pháp.
Thứ nhất, tiếp tục rà soát, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục theo hướng phù hợp với đặc điểm dân cư, địa bàn và điều kiện đi lại của học sinh; duy trì hợp lý các điểm trường ở vùng đặc biệt khó khăn, đồng thời phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh vùng cao được học tập ổn định.
Thứ hai, ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cho các trường miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới và hải đảo. Tập trung nguồn lực từ ngân sách địa phương, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, cùng các nguồn vốn đầu tư công để xây dựng phòng học kiên cố, nhà bán trú, bếp ăn, công trình nước sạch, nhà vệ sinh và bổ sung thiết bị dạy học theo yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018.
Đặc biệt, triển khai đầu tư các trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học - trung học cơ sở tại các xã biên giới đất liền, góp phần tạo điều kiện để học sinh dân tộc thiểu số được học tập trong môi trường thuận lợi hơn, giảm tỷ lệ học sinh bỏ học do khoảng cách địa lý và điều kiện đi lại khó khăn.
Lễ khởi công công trình xây dựng Trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học – Trung học cơ sở xã Bờ Y, tỉnh Quảng Ngãi. Ảnh: quangngai.edu.vn
Thứ ba, ưu tiên bổ sung giáo viên cho các địa bàn còn thiếu, tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực số, phương pháp dạy học phù hợp với học sinh vùng dân tộc thiểu số.
Thứ tư, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách hỗ trợ học sinh theo quy định của trung ương như miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập, hỗ trợ tiền ăn, tiền ở, học bổng và các chế độ dành cho học sinh dân tộc thiểu số, học sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo và học sinh vùng đặc biệt khó khăn. Đồng thời, tiếp tục huy động các nguồn lực xã hội hóa để chăm lo cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Bên cạnh đó, ngành giáo dục tỉnh đẩy mạnh phát triển học liệu số, kho học liệu dùng chung, từng bước thu hẹp khoảng cách về điều kiện học tập giữa các vùng; tăng cường phối hợp với chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể trong công tác vận động học sinh ra lớp, duy trì sĩ số, nâng cao chất lượng giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng với sự quan tâm của trung ương, của tỉnh cùng sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, ngành giáo dục tỉnh Quảng Ngãi đang từng bước bảo đảm quyền được học tập của mọi học sinh, hướng tới mục tiêu phát triển giáo dục toàn diện, công bằng, bao trùm và không để ai bị bỏ lại phía sau.
Ông Nguyễn Ngọc Thái nhấn mạnh, năm học 2026 - 2027, ngành giáo dục tỉnh xác định giải pháp đột phá để đưa giáo dục Quảng Ngãi bứt phá là tập trung huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, tạo chuyển biến rõ nét về điều kiện dạy học và chất lượng giáo dục.
Trước hết, ngành ưu tiên đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất trường, lớp học, bảo đảm đáp ứng yêu cầu triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Trong đó, tập trung hoàn thành và đưa vào sử dụng các trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học - trung học cơ sở tại các xã biên giới đất liền; tiếp tục đầu tư xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia, nhất là ở các địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới và hải đảo, góp phần từng bước thu hẹp khoảng cách về điều kiện học tập và chất lượng giáo dục giữa các vùng.
Cùng với đó, ngành sẽ ưu tiên đầu tư cho chuyển đổi số, phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, thiết bị dạy học hiện đại và học liệu số; nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn mới.
Để thực hiện các mục tiêu trên, ngành sẽ tiếp tục tham mưu ưu tiên bố trí ngân sách cho giáo dục; đồng thời lồng ghép hiệu quả các nguồn vốn đầu tư công, các chương trình mục tiêu quốc gia và đẩy mạnh huy động các nguồn lực xã hội hóa để đầu tư phát triển giáo dục. Việc tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và thực hiện hiệu quả mục tiêu đột phá phát triển giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết 71.