Tư duy thầy giáo không thay đổi, học trò không có đường tiến bộ

Giáo dục 24h

TS. Nguyễn Tùng Lâm

(GDVN) - Tất cả những chuẩn mực của một giờ lên lớp họ chỉ quan tâm thực hiện khi thao giảng hoặc có thanh tra, có người dự giờ.

LTS: Hiện nay Quốc hội đã thông qua nghị quyết về chương trình sách giáo khoa, chính phủ đã có chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 29/TW Bộ GD&ĐT các Sở GD&ĐT đều đã ra quân tập trung nguồn lực để triển khai theo đúng tinh thần của Nghị quyết 29 về đổi mới toàn diện giáo dục.

Đó là lẽ thuận, nhưng rút kinh nghiệm chu kỳ đổi mới chương trình sách giáo khoa theo Nghị quyết 20 của Quốc hội từ năm 2000, chúng ta đã không thành công như mong đợi.

Cụ thể là chúng ta chưa tập trung giải quyết nhân tố con người, yếu tố nhà giáo và các cán bộ quản lý và đặc biệt không đổi mới được cơ chế quản lý của ngành giáo dục đào tạo, nhất là cơ chế quản lý của mỗi nhà trường, nơi duy nhất trực tiếp tạo ra chất lượng giáo dục.

Vậy những khó khăn trở ngại nào khiến chúng ta cần tập trung giải quyết để có thể “chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực phẩm chất người học”.

Bài viết của TS Tâm lý học Nguyễn Tùng Lâm - Hội Tâm lý giáo dục học Hà Nội sẽ phân tích, mổ xẻ từng vấn đề vì đâu phát triển năng lực người học ở Việt Nam đang rơi vào khó khăn.

Trân trọng giới thiệu cùng độc giả.

Những hạn chế của đội ngũ nhà giáo

Năm 2012 Viện Khoa học giáo dục Việt Nam có làm điều tra khoa học nhỏ lấy mẫu ở một số tỉnh thành ở các cấp học, khi hỏi giáo viên nếu được đào tạo lại anh chị có làm giáo viên nữa không? Thì đều nhận được một tỷ lệ là gần hoặc trên 50 % giáo viên các cấp trả lời “nếu được chọn lại nghề họ đều không muốn chọn lại nghề giáo viên”.

Đây mới chỉ là đánh giá về lòng yêu nghề, một động lực quan trọng để giúp phát triển đội ngũ nhà giáo nhưng còn những mặt khác của nhà giáo thì sao?

Chỉ phân tích ở góc độ nghiệp vụ nhà giáo chúng ta lại thấy những biểu hiện tích cực hay hạn chế chủ yếu sau:

Thứ nhất, một số nhà giáo đã thể hiện được đặc trưng nghề nghiệp của mình: những người luôn khát khao học hỏi, luôn mong muốn làm giàu tri thức khoa học, tri thức đời sống cho bản thân, luôn là tấm gương, là “thần tượng” của học trò.

Ảnh minh họa. Nguồn ảnh Internet

Họ luôn là tấm gương sống về học suốt đời, luôn chủ động sáng tạo khi tiếp cận mọi đối tượng học sinh. Nghề dạy học muốn thành công phải nắm được tâm sinh lý đối tượng mình dạy, mình giáo dục.

Những nguyên tắc, phương pháp giáo dục hiện đại giáo viên luôn cập nhật, chú ý vận dụng trong thực tế. Đặc biệt phải từ thực tiễn giảng dạy, giáo dục họ lại tự đúc rút cho mình những bài học kinh nghiệm, tự nâng cao năng lực trình độ.

Điều này số đông giáo viên ít quan tâm, ít làm được, chỉ có những giáo viên loại 1 thực hiện được dễ dàng. 

Số đông nhà giáo chưa thể hiện được đặc trưng nghề nghiệp của mình. Có thể trong nhà trường sư phạm bộ môn Tâm lý giáo dục đã không được coi trọng, chưa được coi là môn chính để đào tạo tay nghề cho giáo viên mà chỉ được đối xử như một môn chung như: Lịch sử Đảng, triết học…

Khi ra trường rồi, các trường phổ thông không đào tạo, chỉ trông chờ giáo viên tự học.

Con giáo viên: "Con không muốn nghèo như ba mẹ"

(GDVN) - Nhiều thầy cô bước ra khỏi cổng trường người làm tư vấn viên bảo hiểm, người bán hàng đa cấp, phục vụ tiệc cưới, thợ chụp hình, thậm chí là anh xe ôm...

Thứ hai, số đông nhà giáo còn mắc bệnh nghề nghiệp: chạy theo lý thuyết kinh điển, bám vào tri thức có sẵn trong sách giáo khoa (mặc dù nó đã lạc hậu cả về khoa học lẫn thực tiễn) không gắn với thực tiễn đời sống, luôn cho mình là đúng, coi thường những đóng góp của đồng nghiệp, khó chịu với những thắc mắc của học sinh.

Luôn nói nhiều, không chịu lắng nghe, luôn đổ lỗi cho học sinh, cho cha mẹ học sinh và nhà trường, đồng nghiệp, còn bản thân luôn cho là hoàn hảo.

Thứ ba, số đông giáo viên chưa thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, phương pháp giáo dục là do coi thường những đợt tập huấn, huấn luyện nghiệp vụ của từng trường hoặc cơ quan quản lý giáo dục tổ chức.

Cũng có lỗi của người tổ chức là chưa thiết thực, còn hình thức, số đông giáo viên không coi trọng nghề của mình bằng chính việc không thực hiện được tính chuyên nghiệp của nghề giáo, dễ tự do tùy tiện, ngẫu hứng, không chịu theo những qui trình chuẩn mực chặt chẽ. Tùy tiện khác xa với linh hoạt và sáng tạo của nghề giáo.

Trong các nhà trường sư phạm, nhà trường phổ thông ít đào tạo, ít đòi hỏi cao về mặt này để giáo viên quá tự do và tùy tiện về nghiệp vụ.

Tất cả những chuẩn mực của một giờ lên lớp họ chỉ quan tâm thực hiện khi thao giảng hoặc có thanh tra, có người dự giờ.

Như trên đã nêu do không nắm được tâm sinh lý lứa tuổi học sinh, không hiểu được phương pháp giáo dục, kinh nghiệm giáo dục tiên tiến nên dễ tùy tiện và dễ mắc sai lầm trong quá trình giáo dục.

Đặc biệt 2015 khi áp dụng chương trình, sách giáo khoa mới theo hướng tích hợp các môn học, theo hướng phát triển theo năng lực người học nếu giáo viên không được huấn luyện đến mức có đủ kỹ năng, có thói quen để làm tốt trong các giờ lên lớp gây hứng thú học sinh hay lại để giáo viên tự do, tùy tiện thực hiện.

Nếu vậy chắc chắn chúng ta không thể thay đổi tận gốc về chất đội ngũ nhà giáo hiện nay.

Khó khăn trong tư duy

Như đã phân tích, số đông đội ngũ nhà giáo của chúng ta hiện nay còn nhiều bất cập về nghề nghiệp lại không được đào tạo chính quy từ trong trường sư phạm về tay nghề, đủ năng lực để có thể phát triển phẩm chất năng lực người học.

Quá lâu thành tật, nhà giáo chủ yếu giao giảng lại kiến thức sách giáo khoa và luyện thi kiểu học thuộc, kiểu bắt chước nay chuyển sang để người học từ chỗ chỉ biết nay sang phải làm được, lại phải làm sáng tạo.

Người dạy phải biết chuyển hóa từ cách dạy chữ, từ cách chúng ta muốn học sinh “cần biết cái gì” sang cách dạy để học sinh có đủ năng lực phẩm chất (kết quả đầu ra) tức là chúng ta muốn “học sinh có thể làm được những gì” tức là học sinh biết làm những gì từ điều các em biết.

Hoặc phải quan niệm một cách chặt chẽ như các nhà giáo dục cộng đồng châu âu: “Năng lực được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kỹ năng thiết yếu có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể” F.E Weimen (CECD – 2001). 

Quá trình giảng dạy, giáo dục ở các bậc phổ thông phải đảm bảo đủ 6 phẩm chất, đủ 9 năng lực (theo đề án đổi mới căn bản toàn diện của Bộ GD&ĐT trình Quốc Hội 8/2014).

Một khó khăn khác, quá trình hình thành năng lực chính là quá trình phát triển nhân cách toàn diện của học sinh.

Sản phẩm của nhà giáo là sự phát triển nhân cách của người học qua từng cấp học. Quá trình giáo dục bồi dưỡng năng lực là quá trình tác động sư phạm của nhà giáo phải đúng quy luật, đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn. 

Sơ đồ mô tả sự hình thành và phát triển nhân cách.

Từ mô hình nhân cách này chúng ta thấy mặt tác động làm nên nhân cách người học. Đó là nhận thức -  tình cảm - hành vi.

Mọi hoạt động giáo dục phải tác động đồng đều lên cả 3 mặt này, nhân cách người học mới phát triển, mới hình thành một cách bền vững, trái lại nếu tác động không đồng bộ sẽ làm nhân cách dễ lệch lạc hoặc méo mó trở nên vô ích, không giúp gì cho việc hình thành nhân cách của người học.

Nếu chỉ chú ý “dạy chữ” sẽ không tạo được năng lực cá nhân mỗi người, chỉ khi họ chuyển tới nhận thức đúng sang hành động cụ thể để giải quyết các vấn đề cuộc sống ở xã hội đang đặt ra lúc đó con người mới có năng lực.

Vai trò của Văn học với giáo dục lòng biết ơn cho trẻ

(GDVN) - Việc giáo dục lòng biết ơn cho trẻ là một vấn đề quan trọng cần sự quan tâm để giúp trẻ có những tư cách đạo đức tốt được rèn luyện từ nhỏ.

Như vậy “năng lực” mà đổi mới giáo dục muốn hướng tới là những năng lực cần có ở mỗi con người để đi vào cuộc sống. Chứ không phải những con người chỉ có mớ kiến thức, thiếu tự tin, không dám hành động. Vì vậy nhà giáo dục phải tìm cách để học sinh bộc lộ tối đa các mặt nhân cách của mình.

“Dạy người” thông qua các bộ môn khoa học cơ bản là người dạy phải hướng tới thông qua việc truyền thụ kiến thức cơ bản của khoa học tự nhiên cúng như khoa học xã hội là để tạo cho người học năng lực và một số phương pháp tư duy, những thói quen suy nghĩ, hành động và một số lối sống tìm tòi biết tự đánh giá, tự lựa chọn suốt cuộc đời.

Đó là những kỹ năng tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng làm việc nhóm. Hoặc phải giúp cho học sinh thực hiện được những yêu cầu một cách cụ thể.

Để dạy người và tạo năng lực cá nhân cho học sinh thông qua các bộ môn khoa học, người thầy phải thay đổi phương pháp giảng dạy.

Muốn vậy giáo viên phải được huấn luyện kỹ hơn về các phương pháp đổi mới dạy học như dạy nêu vấn đề, dạy theo nhóm, theo dự án... Họ còn phải tiếp thu cách dạy theo cảm nhận, theo trải nghiệm sáng tạo của phương pháp dạy giá trị sống, kỹ năng sống.

Giờ dạy các bộ môn không thể là giờ đọc chép hay “nhìn chép”, nó phải thiết thực, sôi động như chính cuộc sống. Đó là những giờ dạy thật sự “mở”.

Cách kiểm tra, đánh giá bộ môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội cũng phải khác nhưng tất cả phải gắn với kết quả thực hành, không phải chỉ ở trên lớp mà cả về nhà, ra xã hội và phải tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng.

Làm sao sau mỗi giờ lên lớp học sinh của chúng ta thấy thích học, biết cách tự học, có thói quen học và học có kết quả.

Các hành vi thể hiện sự phát triển nhân cách còn phải được thường xuyên rèn luyện, thường xuyên củng cố tạo thành thói quen khi nào các hành vi được củng cố thành những thói quen tốt, nhân cách mới phát triển ổn định, hài hòa, đồng thời những phẩm chất, năng lực cần có mới phát triển bền vững, đây là cơ sở hướng dẫn người học đến thành công.

Nhưng để nhà giáo khắc phục được những khó khăn trên, vấn đề không chỉ liên quan đến việc bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ tương xứng cho nhà giáo mà còn phụ thuộc cơ chế quản lý của mỗi nhà trường, môi trường giáo dục quyết định chất lượng giáo dục, trường học phổ thông của Việt Nam còn đang thiếu một cơ chế tự chủ và dân chủ.

TS. Nguyễn Tùng Lâm
Từ khóa :
học sinh , Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo , giáo dục , đào tạo , Sở Giáo Dục Đào Tạo , thầy , giáo viên , giảng dạy , học trò , tư duy thầy giáo
Tư duy thầy giáo không thay đổi, học trò không có đường tiến bộ
Chủ đề : Đổi mới giáo dục phổ thông
Viết bình luận của bạn về bài viết này ...
tienhoclevtrh@gmail.com
1

Tôi đã từng đổi mới tiết dạy cho cả trường dự giờ thầy dạy thật, trò học thật kết quả bị chỉ trích không còn chỗ nào cả, quá tam ba bận tôi đành phải chấp nhận thầy dạy giả, trò học giả. Buồn lắm cũng đành chịu thôi.

thuyan
1

Người nào tài và dũng cảm đã bỏ nghề mất rồi. OK bạn văn lư !

ka ki
1

không biết các nước xung quanh ta có nước nào đưa ra nhiều chuẩn kiểu ta không? chuẩn là lưu ban, tỷ lệ học sinh lên lớp có từ đầu năm, giáo viên nào để học sinh lưu ban, thiếu điểm hãy coi chừng. học lực của học sinh mà phụ thuộc vào mệnh lệnh của lãnh đạo ngành. thế thưa ông tiến sĩ Lâm ông giải thích cái tâm, cái tư duy của ai cần đổi mới? lỗi này thuộc về ai? Gv có yêu nghề có tâm huyết như ông nói liệu có làm thay đổi được không thưa ngài tiến sĩ? mong ông trả lời còn nếu không ....

Nguyên hài Nghi
4

Quan điểm như thế là không đúng, chưa thấy hết được vai trò cực kỳ quan trọng của người học.

Minh Thư
4

Một bài viết sâu sắc và chất lượng. Hy vọng rằng với quan điểm đổi mới GD hiện nay, những người tâm huyết với nghề GV sẽ dần dần đông hơn, thay thế những người còn hạn chế về kỹ năng, phẩm chất (bảo thủ nữa) như bài đã nêu để thế hệ HS tương lai được dạy dỗ đúng yêu cầu phát triển xã hội.

võ thành bửu
10

Ông Lâm ơi! từ luận văn thạc sĩ cho đến luận án tiến sĩ của ông bao nhiêu người hành ông vậy? đúng với ông này nhưng sai với ông kia? ông nên nhớ từ hiệu trưởng rồi thanh tra: phòng , sở, bộ có ông bà nào không quát tháo, tung hết nào sổ sách, giáo án rồi vạch lá tìm sâu để thị uy cho oai? bao nhiêu câu hỏi: sao làm không đúng quy chế, soạn giáo án sao đi ngoài khung của bộ quy định? dạy không sát chương trình.....vậy xin hỏi ông Lâm sáng tạo được gì? sáng tạo mà mang họa vào thân à? trong khi cái đầu các nhà quản lý kém sáng tạo? không biết ông có đi dạy được bữa nào chưa mà phán nghe hùng hồn thế? nếu ông làm lãnh đạo giáo dục thì chả Gv nào dám sáng tạo đâu thưa ông. mong ông đọc các comment này rồi suy ngẫm trước khi nói. tất cả đều do cơ chế trên nói dưới phải nghe chống lại là toi ông quá hiểu mà? đã là lãnh đạo là phun châu nhả ngọc....

văn lư
5

Cũng không thể trách giáo viên như TS Lâm nghĩ. Ba ông Tiến sĩ vẫn không bằng bác nông dân lâu năm làm ruộng, huống chi hàng triệu giáo viên, hàng nghìn hoàn cảnh và trình độ không thể gần như nhau. Thưa Tiến sĩ Lâm! ngài có biết trong hàng vạn cán bộ dẫn đường chỉ lối giáo dục, tay kiếm tay bút, có bao vị đủ gan dám làm dám chịu và bao nhiêu vị đủ trình độ dạy một tiết không cần xem sách và bao nhiêu vị do này nọ mà cầm con dấu? Tắm từ đầu hay từ vai xuống? Một tư duy vĩ mô đúng làm biến đổi cả đất nước. Nhưng ai cũng chỉ cố giữ ghế cho hết vài nhiệm kỳ, sau khi quá đuđủ rồi. Lại một vị khác lên, rồi lại vị khác. Giáo viên, người làm thuê, cũng chỉ chạy theo làm theo. Người nào tài và dũng cảm đã bỏ nghề mất rồi.

Bin Bin
4

OK với ý kiến thần sấm

Xem thêm bình luận
Tin khác