Theo Luật Công nghệ cao số 133/2025/QH15 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2026), nhân lực công nghệ cao sẽ được hưởng nhiều chính sách ưu đãi đột phá như được hưởng mức ưu đãi cao nhất về thuế thu nhập cá nhân, ưu tiên giao trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ khoa học – công nghệ quốc gia, hỗ trợ đào tạo nâng cao năng lực nghiên cứu, đồng thời được bảo hộ và thương mại hóa kết quả sở hữu trí tuệ. Đồng thời, Luật cũng bảo đảm các điều kiện sống và làm việc thuận lợi như hỗ trợ nhà ở, xuất nhập cảnh, cư trú, giấy phép lao động, và tạo điều kiện tiếp cận phòng thí nghiệm dùng chung, cơ sở nghiên cứu hiện đại, nhằm thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Hướng tới xây dựng một hệ sinh thái phát triển bền vững cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Quách Thanh Hải – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh cho hay, những quy định mới trong Luật Công nghệ cao năm 2025 được kỳ vọng sẽ tạo ra một “cú hích” chính sách mạnh mẽ đối với việc thu hút và phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao. Đáng chú ý, ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân được nâng lên mức cao nhất theo quy định pháp luật, cùng với việc luật hóa rõ ràng các điều kiện làm việc và sinh sống thuận lợi từ hỗ trợ nhà ở, cư trú đến sử dụng cơ sở nghiên cứu hiện đại thay vì chỉ dừng ở mức định hướng chung như trước đây. Những chính sách này sẽ đặc biệt thu hút các nhà khoa học là người Việt Nam đang làm việc tại nước ngoài.

Không những vậy, đối với các cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng những chính sách đãi ngộ hấp dẫn nhằm thu hút nguồn nhân lực công nghệ cao. Luật mới cũng tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục, nghiên cứu chủ động hơn trong việc thu hút và giữ chân đội ngũ giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia có kinh nghiệm thực tiễn, đặc biệt là từ khu vực tư nhân hoặc cộng đồng trí thức người Việt ở nước ngoài.

Cùng với đó là Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 với nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực, thực chất và tự chủ hơn nữa chính là động lực để các trường đại học nói chung và Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng xây dựng các quy chế chi tiêu, quy chế hoạt động làm việc linh hoạt, đáp ứng thực tế đảm bảo thu hút nhân lực công nghệ cao đúng theo tinh thần của Luật.

577670160-1166255818984004-1591647928640264580-n-1.jpg
Ảnh minh họa. Nguồn: Website Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

Cũng theo thầy Hải, Luật Công nghệ cao số 133/2025/QH15 đã đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong chính sách thu hút chuyên gia người Việt ở nước ngoài, khi chuyển từ “kêu gọi” sang “cam kết”. Trước đây, phần lớn việc mời gọi trí thức Việt kiều về nước chủ yếu dựa trên lòng yêu nước và tinh thần tự nguyện cống hiến, thì nay, Luật đã đưa ra các ưu đãi cụ thể và có tính ràng buộc pháp lý, từ ưu đãi thuế, bảo đảm điều kiện sống và làm việc, đến quyền tiếp cận các phòng thí nghiệm, cơ sở nghiên cứu công nghệ cao.

Có thể nói, những chính sách này không chỉ mang tính khích lệ về tài chính mà còn đáp ứng được những yêu cầu thiết thực của giới chuyên gia, vốn rất coi trọng môi trường làm việc chuyên nghiệp, hệ sinh thái R&D bài bản, cùng cơ hội phát triển sự nghiệp bền vững. Việc luật hóa những điều kiện này thể hiện quyết tâm của Nhà nước trong việc tạo ra một môi trường thật sự thuận lợi để chuyên gia Việt ở nước ngoài yên tâm trở về và gắn bó lâu dài.

Với riêng Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh - một trong 5 trường được quy hoạch trọng điểm quốc gia về công nghệ kỹ thuật, Nhà trường xác định được sứ mệnh, thế mạnh của mình nên đã và đang tiếp tục đầu tư nhân lực, cơ sở vật chất, các phòng thí nghiệm chuẩn để có thể tạo một hệ sinh thái, môi trường làm việc hoàn hảo nhất có thể để các nhà khoa học hàng đầu, các chuyên gia người Việt đến làm việc và cùng với đó là một lực lượng các nhà khoa học trong trường, trong nước cùng phối hợp, hợp tác để phát triển.

Đồng tình với quan điểm trên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Gia Như – Hiệu trưởng Trường Khoa học máy tính và Trí tuệ nhân tạo (Đại học Duy Tân) nhận định, những quy định mới trong Luật Công nghệ cao 2025 đã tạo ra một “lực kéo” mạnh mẽ nhờ cách tiếp cận toàn diện, không chỉ tập trung vào hỗ trợ tài chính mà còn hướng tới xây dựng một hệ sinh thái phát triển bền vững cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Theo Phó Giáo sư Nguyễn Gia Như, sức hút của Luật thể hiện rõ ở ba khía cạnh mang tính đột phá. Thứ nhất, việc áp dụng mức ưu đãi cao nhất về thuế thu nhập cá nhân đối với nhân lực trực tiếp tham gia nghiên cứu và phát triển công nghệ cao là sự ghi nhận xứng đáng đối với giá trị chất xám và đóng góp của đội ngũ chuyên gia. Thứ hai, các chính sách hỗ trợ sử dụng phòng thí nghiệm dùng chung, cơ sở nghiên cứu, cùng cơ chế ưu tiên giao trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ thuộc chương trình quốc gia đặc biệt, đã tạo “đất diễn” cho các nhà khoa học triển khai những ý tưởng lớn, có tầm ảnh hưởng chiến lược. Thứ ba, Luật đặc biệt chú trọng đến việc bảo hộ và thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ, giúp chuyên gia yên tâm rằng thành quả nghiên cứu không chỉ dừng lại trên giấy, mà có thể đi vào thực tiễn, tạo ra giá trị kinh tế và tác động xã hội.

Trên thực tế, đối với các chuyên gia đang làm việc tại những quốc gia phát triển, băn khoăn lớn nhất khi cân nhắc trở về nước thường nằm ở sự chênh lệch về điều kiện sống và hạ tầng nghiên cứu. Luật Công nghệ cao 2025 đã trực tiếp tháo gỡ những “nút thắt” này khi Nhà nước cam kết bảo đảm các điều kiện sống và làm việc thuận lợi nhất cho nhân lực công nghệ cao, từ hỗ trợ nhà ở đến đơn giản hóa thủ tục xuất nhập cảnh, cư trú và cấp giấy phép lao động.

Bên cạnh đó, việc đầu tư phát triển các khu công nghệ cao và đô thị công nghệ cao với hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số đồng bộ được kỳ vọng sẽ tạo ra môi trường làm việc tiệm cận chuẩn mực quốc tế. Điều này giúp các chuyên gia không bị “hụt hẫng” khi chuyển dịch môi trường nghiên cứu, đồng thời duy trì được hiệu suất và chất lượng công việc như khi làm việc ở nước ngoài.

638766781453049756-tt6.png
Ảnh minh họa. Nguồn: Website Đại học Duy Tân.

Theo thầy Như, mục tiêu xuyên suốt của Luật là nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia. Chính định hướng này không chỉ mang ý nghĩa chiến lược về phát triển đất nước, mà còn khơi dậy lòng tự hào, tinh thần trách nhiệm và khát vọng cống hiến của đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài đối với quê hương.

Cùng bàn về vấn đề trên, Nhà giáo Ưu tú, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lương Quang Khang - Trưởng phòng Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Mỏ - Địa chất cho biết, những chính sách mới của Luật Công nghệ cao lần này đã thực sự đặt con người ở vị trí trung tâm của phát triển công nghệ. Theo thầy Khang, đội ngũ nhân lực công nghệ cao chính là nguồn lực cốt lõi của đổi mới sáng tạo và tăng trưởng bền vững, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực công nghệ cao và công nghệ chiến lược.

Có thể thấy, việc quy định rõ ràng và nhất quán các chính sách ưu đãi vượt trội như ưu đãi về thuế, ưu tiên giao nhiệm vụ khoa học - công nghệ, hỗ trợ đào tạo nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển, cùng với bảo hộ và thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ đã phát đi thông điệp mạnh mẽ về cam kết của Nhà nước trong việc đầu tư và đồng hành lâu dài cùng đội ngũ trí thức, chuyên gia công nghệ cao.

Không chỉ dừng lại ở chính sách tài chính, theo Phó Giáo sư Lương Quang Khang, việc luật hóa các điều kiện bảo đảm môi trường sống và làm việc thuận lợi cho nhân lực công nghệ cao, từ hỗ trợ nhà ở, thủ tục hành chính đến khả năng tiếp cận hạ tầng nghiên cứu là yếu tố mang tính đột phá, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thực tiễn tại nhiều quốc gia cho thấy môi trường làm việc thuận lợi chính là nền tảng để các nhà khoa học, chuyên gia toàn tâm, toàn ý cho nghiên cứu, sáng tạo và chuyển giao công nghệ.

Từ góc độ của một cơ sở đào tạo và nghiên cứu kỹ thuật trọng điểm, thầy Khang nhận định, các chính sách mới của Luật Công nghệ cao sẽ tạo ra tác động lan tỏa rất mạnh mẽ đối với hệ thống giáo dục đại học, đặc biệt là các trường đào tạo về kỹ thuật, công nghệ. Khi xã hội, doanh nghiệp và Nhà nước cùng khẳng định vai trò và giá trị của nguồn nhân lực công nghệ cao, các trường đại học sẽ có thêm động lực để đầu tư mạnh mẽ hơn cho đào tạo và nghiên cứu, trong khi người học cũng có thêm niềm tin và định hướng rõ ràng hơn cho con đường nghề nghiệp của mình.

“Đây là động lực rất lớn để người học thực sự đam mê và "dấn thân" vào các ngành công nghệ cao, công nghệ chiến lược. Các em sẽ thấy rõ hơn con đường phát triển nghề nghiệp, cơ hội cống hiến và sự ghi nhận xứng đáng của xã hội đối với tri thức và lao động sáng tạo”, Phó Giáo sư Lương Quang Khang nhấn mạnh.

Cần làm gì để rút ngắn khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn?

Bên cạnh các ưu đãi tài chính và pháp lý được luật hóa, để thực sự giữ chân đội ngũ nhân lực công nghệ cao và chuyên gia nghiên cứu khoa học sau khi họ trở về nước, thầy Hải cho rằng, Việt Nam cần tập trung xây dựng ba yếu tố mang tính nền tảng:

Thứ nhất là, một môi trường học thuật và nghiên cứu thực chất, với cơ chế đánh giá, khen thưởng công bằng, hỗ trợ nhóm nghiên cứu dài hạn và quy trình tài trợ minh bạch, tránh hành chính hóa hoạt động khoa học.

Thứ hai là, văn hóa làm việc chuyên nghiệp, trong đó cần hạn chế cơ chế “xin – cho” trong nghiên cứu, giảm thủ tục không cần thiết và tăng cường sự tin cậy vào nhà khoa học, tạo điều kiện cho sáng tạo được phát huy trong môi trường tôn trọng chuyên môn.

Thứ ba là, đảm bảo cơ hội phát triển lâu dài cho chuyên gia thông qua việc họ được tham gia vào các hoạt động hoạch định chính sách, kết nối quốc tế và có điều kiện để đào tạo thế hệ kế cận. Đây là những yếu tố then chốt để không chỉ thu hút mà còn tạo động lực bền vững để chuyên gia gắn bó và cống hiến lâu dài cho đất nước.

Để các chính sách ưu đãi trong Luật Công nghệ cao đi vào thực chất và dễ tiếp cận hơn với nhân lực công nghệ cao, đặc biệt là chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài, thầy Hải cho rằng, cần sớm thiết lập các đầu mối chuyên trách, có đủ thẩm quyền để xử lý nhanh chóng, hiệu quả các thủ tục liên quan như thuế, cư trú, nhà ở, đầu tư hay cấp phép lao động cho chuyên gia.

Theo đó, Nhà nước nên phân bổ ngân sách đồng thời, cần mạnh dạn ủy quyền thực thi cho các viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm khoa học công nghệ có năng lực, để họ được chủ động trong việc mời gọi, hợp tác và chi trả cho chuyên gia, thay vì phải phụ thuộc vào các quy trình phê duyệt phức tạp từ cấp trên.

Thực tế cho thấy, các chuyên gia, nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài đang hợp tác với Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đều đến từ các mối quan hệ của các giảng viên, nhà khoa học của trường, vì thế, thay vì chờ cấp trên, chờ địa phương, trường đại học cần chủ động xây dựng những cơ chế chính sách để giảng viên của trường duy trì, phát triển các mối quan hệ hiện hữu với các đối tác khi họ đi học tập (nghiên cứu sinh) và trao đổi khoa học (hội thảo). Đây là điều kiện tiên quyết để rút ngắn khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn, tăng tính linh hoạt và hiệu quả trong thu hút nhân lực chất lượng cao.

Mặt khác, để phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa trong nghiên cứu, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, Việt Nam nên khuyến khích mô hình làm việc linh hoạt đối với chuyên gia công nghệ cao, đặc biệt là người Việt ở nước ngoài. Thay vì yêu cầu họ phải về nước làm việc toàn thời gian, có thể tạo điều kiện để họ tham gia theo hình thức từ xa, bán thời gian hoặc theo dự án cụ thể. Điều này không chỉ giảm áp lực di chuyển, sắp xếp cuộc sống mà còn giúp tận dụng chất xám xuyên biên giới một cách linh hoạt và hiệu quả.

Hơn nữa, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ nhập cư đặc biệt theo diện nhân tài, có chính sách hỗ trợ gia đình nhà nghiên cứu nhằm thu hút các nhà nghiên cứu uy tín của thế giới tới Việt Nam làm việc lâu dài,

Bên cạnh đó, việc ghi nhận và vinh danh chuyên gia cần được mở rộng, không chỉ dừng ở chế độ đãi ngộ tài chính mà cần thể hiện qua vị trí trong học thuật, quyền tham gia hoạch định chính sách, chiến lược quốc gia về khoa học và công nghệ. Khi chuyên gia cảm thấy được tôn trọng và có tiếng nói trong hệ thống, họ sẽ có thêm động lực để gắn bó và đóng góp lâu dài cho đất nước.

Theo Hiệu trưởng Trường Khoa học máy tính và Trí tuệ nhân tạo (Đại học Duy Tân), để thực sự thu hút và giữ chân đội ngũ chuyên gia R&D trong dài hạn, điều cốt lõi là phải hình thành cơ chế “chấp nhận rủi ro” trong nghiên cứu công nghệ cao – lĩnh vực vốn tiềm ẩn tỷ lệ thất bại lớn. Các quy định về chấp nhận rủi ro đã được Luật đề cập cần sớm được cụ thể hóa bằng những văn bản hướng dẫn rõ ràng, qua đó tạo “hành lang an toàn” về pháp lý và tài chính, giúp các nhà khoa học yên tâm dấn thân, dám nghĩ, dám làm mà không lo hệ lụy khi kết quả nghiên cứu chưa đạt như kỳ vọng.

Song song với đó, môi trường làm việc cần được xây dựng theo hướng minh bạch, tinh gọn thủ tục hành chính. Giới chuyên gia cần sự tự do trong học thuật, cùng với sự hỗ trợ kịp thời, hiệu quả từ bộ máy quản lý. Đặc biệt, mối liên kết chặt chẽ giữa Viện – Trường – Doanh nghiệp giữ vai trò then chốt. Khi trở về nước, các chuyên gia cần nhìn thấy rõ sản phẩm nghiên cứu của mình có hệ sinh thái hỗ trợ hoàn chỉnh, từ chuỗi cung ứng đến thị trường tiêu thụ trong nước và khả năng vươn ra quốc tế.

Để các chính sách ưu đãi của Luật Công nghệ cao 2025 thực sự đi vào cuộc sống, tránh tình trạng “có luật nhưng khó tiếp cận”, theo thầy Như, các bộ, ngành và địa phương cần chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang tư duy “phục vụ và kiến tạo”, thông qua những nhóm giải pháp cụ thể.

Thứ nhất, cần đẩy mạnh số hóa và minh bạch hóa các tiêu chí tiếp cận chính sách. Để chấm dứt cơ chế “xin – cho”, mọi quy trình phải được lượng hóa, công khai và dễ đối soát. Bộ Khoa học và Công nghệ cần sớm ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê và tiêu chí đo lường cụ thể nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động công nghệ cao. Qua đó, các chuyên gia và doanh nghiệp có thể tự đánh giá khả năng đáp ứng của mình một cách minh bạch. Đồng thời, cần vận hành hiệu quả nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia, tiếp nhận và xử lý hồ sơ trực tuyến, giảm tối đa các thủ tục hành chính rườm rà đối với nhân lực trình độ cao.

Thứ hai, xây dựng “luồng xanh” cho hạ tầng và dịch vụ đời sống. Với các chuyên gia đang làm việc ở nước ngoài, sự thuận tiện trong sinh hoạt và an cư là điều kiện tiên quyết để họ yên tâm trở về. Các địa phương cần phối hợp chặt chẽ trong triển khai chính sách ưu đãi về xuất nhập cảnh, cư trú, cấp giấy phép lao động, bảo đảm quy trình nhanh gọn, đồng bộ. Không dừng lại ở việc giao đất xây dựng nhà máy, địa phương cần đầu tư phát triển các đô thị công nghệ cao – nơi hội tụ môi trường sống xanh, an toàn, hạ tầng xã hội và dịch vụ thông minh, đáp ứng đầy đủ nhu cầu sinh hoạt của chuyên gia và gia đình họ.

Thứ ba, hiện thực hóa cơ chế “chấp nhận rủi ro” trong nghiên cứu. Công nghệ cao luôn gắn với thử nghiệm và khả năng thất bại. Nếu thiếu cơ chế bảo vệ phù hợp, các chuyên gia sẽ khó toàn tâm cống hiến. Do đó, cần triển khai nghiêm túc các quy định về chấp nhận rủi ro theo Luật, tạo điều kiện để nhà khoa học mạnh dạn theo đuổi những lĩnh vực công nghệ lõi, công nghệ chiến lược. Cùng với đó, Nhà nước cần bố trí nguồn lực đầu tư cho hệ thống phòng thí nghiệm quốc gia và các cơ sở nghiên cứu dùng chung đạt chuẩn quốc tế, giúp chuyên gia tiếp cận trang thiết bị hiện đại mà không phải tự gánh chi phí đầu tư quá lớn.

Tường San