Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã ký ban hành Quyết định số 2103/QĐ-BKHCN phê duyệt "Chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc giai đoạn 2026-2030" (Vietnam Research Excellence Fellowship – VREF), với mức hỗ trợ tối đa lên tới 1 tỷ đồng/năm cho mỗi nghiên cứu sinh trong thời gian không quá 3 năm.
Chương trình nhằm hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đột phá, ưu tiên các nhiệm vụ nghiên cứu có tiềm năng tạo ra công nghệ lõi, phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược; hình thành đội ngũ nhà khoa học trẻ có năng lực vượt trội, có khả năng nghiên cứu độc lập, góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Hàng năm hỗ trợ kinh phí nghiên cứu cho khoảng 100 nghiên cứu sinh xuất sắc
Chương trình xác định, nghiên cứu sinh là lực lượng nghiên cứu nòng cốt, trực tiếp thực hiện và tạo ra các đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đầu tư bồi dưỡng nghiên cứu sinh xuất sắc không chỉ là giải pháp phát triển nhân lực, mà còn là khoản đầu tư chiến lược mang tính kiến tạo, nhằm xây dựng thế hệ các nhà khoa học đầu ngành, các chuyên gia công nghệ đủ năng lực dẫn dắt sự phát triển của quốc gia trong tương lai.
Bên cạnh đó, chuyển từ hỗ trợ đào tạo sang đầu tư nghiên cứu xuất sắc, tập trung nguồn lực có trọng điểm, ưu tiên các lĩnh vực công nghệ chiến lược, đồng thời bảo đảm phát triển cân đối các lĩnh vực khoa học khác.
Ngoài ra, thực hiện cơ chế tuyển chọn minh bạch, cạnh tranh, đánh giá theo kết quả, gắn hỗ trợ với đầu ra cụ thể.
Khuyến khích hợp tác đồng tài trợ từ doanh nghiệp và tổ chức khoa học và công nghệ, tăng cường hợp tác quốc tế, liên kết Nhà nước - Viện/Trường - Doanh nghiệp.
Chương trình VREF đặt mục tiêu hằng năm tuyển chọn, hỗ trợ kinh phí nghiên cứu cho khoảng 100 nghiên cứu sinh xuất sắc, trong đó ưu tiên phân bổ nguồn lực cho nhóm trực tiếp tham gia các nhiệm vụ nghiên cứu làm chủ, tạo ra công nghệ lõi, phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược; phần còn lại dành cho nhóm thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đột phá thuộc những lĩnh vực khoa học khác.
Tối thiểu 60% kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế uy tín (thuộc nhóm Q1 hoặc danh mục có uy tín như Nature Index); tối thiểu 20% kết quả nghiên cứu có đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (sáng chế, giải pháp hữu ích hoặc tương đương); tối thiểu 15% kết quả nghiên cứu được chuyển giao, thương mại hóa hoặc ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh.
Hình thành mạng lưới các nhà khoa học trẻ tham gia Chương trình VREF, thông qua đó góp phần xây dựng và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, tăng cường hợp tác quốc tế, bao gồm hợp tác với chuyên gia nước ngoài và trí thức người Việt Nam ở nước ngoài thông qua cơ chế đồng hướng dẫn; nâng cao năng lực nghiên cứu, tiềm lực khoa học và công nghệ của các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, tổ chức khoa học và công nghệ trong nước.
Ưu tiên nghiên cứu công nghệ lõi, sản phẩm công nghệ chiến lược
Chương trình xác định ba nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm.
Một là, tuyển chọn nghiên cứu sinh xuất sắc gắn với hệ sinh thái nghiên cứu, đổi mới sáng tạo. Theo đó, tổ chức thực hiện cơ chế tuyển chọn độc lập, khách quan, cạnh tranh; phân bổ kinh phí tập trung, ưu tiên nguồn lực cho các nhiệm vụ làm chủ, sáng tạo công nghệ lõi, phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược; phần còn lại dành cho các nhiệm vụ nghiên cứu xuất sắc trong các lĩnh vực khác. Đồng thời, ưu tiên hỗ trợ các nhiệm vụ thiết lập được cơ chế đồng hướng dẫn với chuyên gia uy tín quốc tế, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài; khuyến khích gắn kết với các nhóm nghiên cứu mạnh và mạng lưới hợp tác quốc tế.
Đáng chú ý, Chương trình đưa sự tham gia thực chất của doanh nghiệp, từ bước đề xuất ý tưởng, đồng tài trợ, phối hợp triển khai đến tiếp nhận, thương mại hóa kết quả, thành tiêu chí trọng yếu, tiến tới bắt buộc trong toàn bộ quá trình đánh giá, tuyển chọn và nghiệm thu nhiệm vụ nghiên cứu.
Hai là, định hướng sản phẩm và đầu ra nghiên cứu. Việc cấp kinh phí và nghiệm thu nhiệm vụ nghiên cứu phải dựa trên cam kết và kết quả thực tế của các nhóm sản phẩm đầu ra. Trong đó, sản phẩm công nghệ lõi yêu cầu nghiên cứu sinh trực tiếp tham gia làm chủ, sáng tạo ra các giá trị nền tảng có thể định lượng được, bao gồm nhưng không giới hạn ở thuật toán, mô hình, phần mềm lõi, quy trình công nghệ, vật liệu mới, bản thiết kế hệ thống phần cứng/vi mạch hoặc giải pháp kỹ thuật có khả năng thương mại hóa.
Bên cạnh đó, yêu cầu có công bố khoa học trên các tạp chí quốc tế uy tín hoặc được đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ (bao gồm sáng chế, giải pháp hữu ích) gắn liền với kết quả nghiên cứu. Các kết quả nghiên cứu cũng phải chỉ ra được khả năng tích hợp vào các sản phẩm công nghệ chiến lược quốc gia hoặc đề xuất được giải pháp đột phá giải quyết các bài toán kinh tế - xã hội cụ thể.
Ba là, định kỳ đánh giá kết quả, hiệu quả đầu ra và tác động của Chương trình. Việc đánh giá được tổ chức định kỳ hằng năm và theo giai đoạn trên cơ sở bộ chỉ số định lượng, tập trung vào chất lượng kết quả nghiên cứu, mức độ đạt mục tiêu, hiệu quả sử dụng kinh phí và tác động đối với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế - xã hội. Kết quả đánh giá là căn cứ để điều chỉnh mục tiêu, nội dung, quy mô, cơ chế thực hiện Chương trình, phân bổ nguồn lực hằng năm và định hướng cho giai đoạn tiếp theo.
Hỗ trợ tối đa 1 tỷ đồng/năm/nghiên cứu sinh
Ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí thực hiện Chương trình VREF thông qua nguồn chi sự nghiệp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hằng năm. Đẩy mạnh huy động tối đa các nguồn kinh phí khác từ doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước, để triển khai thực hiện Chương trình VREF.
Căn cứ vào tính chất và yêu cầu của nhiệm vụ nghiên cứu, mức hỗ trợ được xác định bảo đảm tập trung, hiệu quả và phù hợp với mục tiêu đề ra. Mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước tối đa 01 tỷ đồng/năm cho 01 nghiên cứu sinh, với thời gian hỗ trợ tối đa 03 năm. Trường hợp cần thiết, nhiệm vụ nghiên cứu có thể được xem xét gia hạn thời gian thực hiện nhưng không quá 02 năm; việc gia hạn không làm tăng thời gian hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước.
Kinh phí hỗ trợ nghiên cứu sinh được sử dụng cho các hoạt động phục vụ trực tiếp nhiệm vụ nghiên cứu, bao gồm: thù lao tham gia thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu; chi cho vật tư, thiết bị, dữ liệu và hạ tầng nghiên cứu; thuê dịch vụ đo kiểm, tính toán, gia công chế tạo; công bố khoa học, tham dự hội nghị, hội thảo; phát triển sản phẩm, thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ; đăng ký và khai thác tài sản trí tuệ, chuyển giao công nghệ; chi phí lưu trú, trao đổi học thuật quốc tế; các nội dung chi khác theo quy định của pháp luật. Việc giải ngân được thực hiện gắn liền với các mốc tiến độ hằng năm.
Theo quyết định, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia là đơn vị chủ trì tổ chức triển khai Chương trình VREF; các đơn vị chức năng thuộc Bộ, các cơ quan, tổ chức giáo dục, đào tạo có liên quan phối hợp thực hiện theo quy định.