Sở GD&ĐT ra đề kiểm tra chung: Làm tốt sẽ tạo cơ sở tin cậy để nâng cao chất lượng giáo dục

28/10/2026 06:40
Mạnh Đoàn
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Đề kiểm tra chung không nên chỉ nhằm xác định trường nào có kết quả cao hơn, mà phải giúp nhận diện học sinh và nhà trường cần được hỗ trợ ở đâu, bằng cách nào và kết quả cải thiện ra sao

Thông tư 89 của Bộ Giáo dục và Đào tạo giao Sở xây dựng đề kiểm tra học kỳ với học sinh cuối cấp được kỳ vọng tạo sự thống nhất trong đánh giá học sinh, giảm áp lực ra đề cho giáo viên và hạn chế tình trạng học tủ, chạy theo điểm số. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, đề kiểm tra chung chỉ phát huy hiệu quả khi kết quả được sử dụng để cải thiện chất lượng dạy học, thay vì trở thành căn cứ duy nhất để so sánh, xếp hạng các trường.

Giảm áp lực ra đề, hạn chế học tủ, chạy theo điểm số

Tiến sĩ Lê Đông Phương - chuyên gia giáo dục, cho rằng việc giao Sở Giáo dục và Đào tạo xây dựng đề kiểm tra định kỳ dùng chung cho các trường trên địa bàn là hướng đi phù hợp, góp phần nâng cao tính thống nhất, khách quan trong đánh giá kết quả học tập của học sinh.

Theo ông Phương, trước đây các trường chủ yếu tự xây dựng đề kiểm tra cuối học kỳ I và cuối năm học, nay giao Sở Giáo dục và Đào tạo giúp tập trung đầu mối tại Sở, tạo cơ sở chung để đánh giá học sinh trong cùng địa phương. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi năng lực ra đề giữa các trường chưa đồng đều, dẫn đến tình trạng cùng một mức điểm nhưng chưa chắc phản ánh tương đương về năng lực học tập.

“Một học sinh đạt 10 điểm ở trường này chưa chắc có năng lực tương đương với học sinh đạt 8 điểm ở trường khác, bởi kết quả còn phụ thuộc vào chất lượng đề kiểm tra”, ông Phương nhận định.

chu-phuong-1.jpg
Tiến sĩ Lê Đông Phương - chuyên gia giáo dục. Ảnh: NVCC

Theo chuyên gia, Sở Giáo dục và Đào tạo có điều kiện tập hợp đội ngũ chuyên môn để xây dựng, thẩm định đề bài bản hơn, bảo đảm bám sát yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông. Việc tổ chức ra đề tập trung cũng góp phần tăng cường bảo mật, hạn chế nguy cơ lộ đề, đồng thời giảm thời gian giáo viên phải dành cho việc xây dựng ma trận và biên soạn đề kiểm tra.

Đồng tình với chủ trương này, Tiến sĩ Vũ Thị Thu Hương, chuyên gia giáo dục, cho rằng đề kiểm tra chung giúp giảm áp lực cho giáo viên, nhà trường và học sinh. Khi các trường sử dụng đề được xây dựng theo yêu cầu thống nhất, học sinh cũng có thể giảm áp lực phải ôn tập theo cách ra đề riêng của từng giáo viên.

Theo bà Hương, đề kiểm tra định kỳ không nên chỉ đánh giá kiến thức học sinh vừa học trong học kỳ hoặc năm học hiện tại mà cần giúp phát hiện cả những lỗ hổng kiến thức từ các lớp dưới. Chẳng hạn, với học sinh lớp 5, đề kiểm tra có thể có những câu hỏi giúp nhận diện mức độ nắm vững kiến thức nền tảng đã học ở các lớp trước.

"Từ kết quả làm bài, giáo viên có thể xác định học sinh đang gặp khó khăn ở mạch kiến thức nào để hỗ trợ kịp thời, thay vì chỉ căn cứ vào điểm số tổng thể", Tiến sĩ Hương cho hay.

Theo Nhà giáo ưu tú, Tiến sĩ Nguyễn Kim Dung – Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Nam Việt (RISES), Phó Giám đốc Thường trực, Chủ tịch Hội đồng kiểm định chất lượng giáo dục, Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục Đông A, quy định sử dụng đề kiểm tra định kỳ chung đối với một số môn học ở các lớp 5, 9 và 12 là một bước thay đổi đáng chú ý trong công tác quản lý và bảo đảm chất lượng giáo dục phổ thông.

Trước hết, quy định này góp phần tăng cường sự thống nhất trong việc xác định yêu cầu đánh giá kết quả học tập của học sinh. Khi các trường sử dụng đề kiểm tra được xây dựng trên cùng yêu cầu cần đạt của Chương trình giáo dục phổ thông, kết quả đánh giá sẽ có cơ sở chung để đối chiếu và phân tích. Điều này giúp hạn chế tình trạng đề kiểm tra ở trường này quá dễ, trường khác quá khó, dẫn đến điểm số không phản ánh những yêu cầu tương đương.

Bà cũng cho rằng, tác động quan trọng hơn nằm ở việc thay đổi cách sử dụng kết quả kiểm tra, đánh giá. Nếu được tổ chức tốt, đề kiểm tra chung không chỉ cung cấp thông tin về kết quả học tập của học sinh mà còn giúp nhà trường, giáo viên và cơ quan quản lý giáo dục nhận diện những nội dung học sinh đã đạt, những năng lực còn hạn chế và các vấn đề cần cải thiện trong quá trình dạy học. Ví dụ, nếu kết quả kiểm tra cho thấy học sinh ở nhiều trường đều gặp khó khăn với những câu hỏi yêu cầu vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề, cơ quan quản lý và các nhà trường cần xem xét liệu phương pháp giảng dạy, hoạt động học tập và cách đánh giá thường xuyên đã thực sự chú trọng phát triển năng lực vận dụng hay chưa.

"Quy định này cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lực xây dựng đề kiểm tra, thiết kế ma trận, xác định tiêu chí chấm và phân tích kết quả đánh giá. Một đề kiểm tra chung có chất lượng phải bảo đảm đo lường đúng những kiến thức, kỹ năng và năng lực cần đánh giá, có độ khó phù hợp, khả năng phân hóa hợp lý và hạn chế các yếu tố gây bất lợi không liên quan đến năng lực của học sinh.

Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh rằng đánh giá định kỳ bằng đề chung chỉ là một bộ phận của hệ thống đánh giá học sinh. Việc đánh giá thường xuyên, quan sát quá trình học tập, sản phẩm học tập và sự tiến bộ của từng em vẫn rất quan trọng. Nếu quá coi trọng kết quả đề kiểm tra chung, chúng ta có thể vô tình tạo ra áp lực luyện thi, khiến giáo viên và học sinh tập trung vào những gì sẽ được kiểm tra thay vì phát triển toàn diện các năng lực mà chương trình giáo dục hướng đến. Vì vậy, theo tôi, giá trị lớn nhất của quy định không phải là làm cho học sinh các trường có thể so điểm với nhau, mà là tạo thêm một nguồn thông tin đáng tin cậy để nâng cao chất lượng dạy học và thúc đẩy cải tiến giáo dục dựa trên minh chứng", Tiến sĩ Dung cho hay.

Phân tích kết quả để cải thiện chất lượng dạy học

Theo Tiến sĩ Vũ Thị Thu Hương, giá trị của kiểm tra định kỳ không dừng lại ở việc chấm điểm mà còn nằm ở khả năng cung cấp thông tin để điều chỉnh hoạt động dạy học. Sau mỗi kỳ kiểm tra, các trường cần thống kê, phân tích kết quả theo từng câu hỏi, từng mạch kiến thức để xác định những nội dung học sinh còn yếu.

Nếu nhiều học sinh cùng gặp khó khăn ở một phần kiến thức, ngành giáo dục cần xem xét nguyên nhân có thể xuất phát từ chương trình, sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy hoặc những yếu tố khác. Trên cơ sở đó, nhà trường và giáo viên có thể xây dựng giải pháp củng cố kiến thức, hỗ trợ học sinh phù hợp.

Bà Hương cho rằng, nếu đã tổ chức kiểm tra chung thì cần triển khai đồng bộ các khâu, từ xây dựng đề, tổ chức kiểm tra, chấm bài đến phân tích và sử dụng dữ liệu. Kết quả không chỉ phản ánh mức độ tiếp thu kiến thức của học sinh mà còn giúp giáo viên nhìn nhận lại hiệu quả giảng dạy, xác định những nội dung cần điều chỉnh.

tien-si-vu-thi-thu-huong.jpg
Tiến sĩ Vũ Thị Thu Hương. Ảnh: NVCC

Bên cạnh đánh giá kiến thức, bà Hương đề xuất ngành giáo dục nghiên cứu các hình thức đánh giá kỹ năng sống, đạo đức và thể chất của học sinh. Đây cũng là những phương diện quan trọng của giáo dục toàn diện, cần được quan tâm tương xứng với việc đánh giá kết quả học tập các môn văn hóa.

Cùng quan điểm về việc sử dụng dữ liệu để cải tiến chất lượng, bà Dung cho rằng sau mỗi kỳ kiểm tra, ngành giáo dục không nên chỉ dừng ở thống kê điểm trung bình, tỷ lệ đạt hoặc số học sinh có điểm cao. Cần phân tích sâu hơn những yêu cầu học sinh đã đáp ứng, những nội dung còn hạn chế, phạm vi xuất hiện của hạn chế và nguyên nhân có thể liên quan đến chương trình, phương pháp giảng dạy, điều kiện học tập hoặc công cụ đánh giá.

Từ kết quả đó, mỗi trường cần xây dựng kế hoạch cải tiến, hỗ trợ học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy học. Cơ quan quản lý cũng có thêm căn cứ để xác định những nơi cần hỗ trợ về chuyên môn và nguồn lực.

“Đề kiểm tra chung không nên chỉ nhằm xác định trường nào có kết quả cao hơn, mà phải giúp nhận diện học sinh và nhà trường cần được hỗ trợ ở đâu, bằng cách nào và kết quả cải thiện ra sao”, bà Dung nêu quan điểm.

Câu hỏi cần tránh chỉ tập trung vào ghi nhớ

Theo Tiến sĩ Nguyễn Kim Dung, cần thống nhất chuẩn đánh giá nhưng không đồng nhất hóa phương pháp dạy học. Chương trình giáo dục phổ thông là căn cứ xây dựng đề kiểm tra, song giáo viên và nhà trường vẫn cần chủ động lựa chọn phương pháp giảng dạy, tổ chức hoạt động học tập phù hợp với điều kiện thực tế. Điều cần thống nhất là yêu cầu cần đạt, không phải buộc tất cả giáo viên dạy theo cùng một cách.

Để đề kiểm tra thực sự đo lường được kiến thức, kỹ năng và năng lực cần đánh giá, khâu xây dựng đề phải dựa trên ma trận, bản đặc tả rõ ràng, thể hiện nội dung và mức độ nhận thức cần kiểm tra. Câu hỏi cần được thẩm định về độ chính xác, độ khó, khả năng phân hóa và mức độ phù hợp với đối tượng học sinh; tránh chỉ tập trung vào ghi nhớ, tái hiện kiến thức mà bỏ qua khả năng vận dụng, giải quyết vấn đề.

Bên cạnh đó, ngành giáo dục cần quan tâm đến sự khác biệt về điều kiện dạy và học giữa các trường. Bảo đảm chuẩn đầu ra không có nghĩa là bỏ qua những khó khăn của cơ sở giáo dục hoặc học sinh. Các trường còn thiếu giáo viên, học liệu, thiết bị và điều kiện học tập cần được hỗ trợ phù hợp; đồng thời, cần có điều chỉnh cần thiết đối với học sinh khuyết tật hoặc có nhu cầu giáo dục đặc biệt.

"Việc tổ chức kiểm tra và chấm bài cũng cần có hướng dẫn cụ thể, tiêu chí đánh giá rõ ràng và tập huấn giáo viên. Với câu hỏi tự luận hoặc câu hỏi mở, nguyên tắc chấm phải bảo đảm tính nhất quán nhưng vẫn ghi nhận những cách giải quyết hợp lý, sáng tạo của học sinh", Tiến sĩ Dung cho hay.

Mạnh Đoàn