Trung Quốc phát triển máy bay cảnh báo sớm cho tàu sân bay Varyag

(GDVN) - Lần đầu tiên, một nguồn tin từ chính quyền Trung Quốc cho biết, máy bay cảnh báo sớm của tàu sân bay đầu tiên có thể được chế tạo trên nền tảng Y-7.

Bản vẽ máy bay cảnh báo sớm dùng cho tàu sân bay của dân mạng Trung Quốc.

Trang mạng “Kính tiềm vọng 2” Nga ngày 16/2 đưa tin, Tào Thần - Phó kiến trúc sư trưởng máy bay cảnh báo sớm ZDK-03 (Trung Quốc xuất khẩu cho Pakistan), nhà nghiên cứu Tập đoàn Khoa học kỹ thuật Điện tử Trung Quốc đã trả lời tạp chí “Tri thức vũ khí” tháng 1/2012 cho biết, máy bay cảnh báo sớm của tàu sân bay đầu tiên có thể được nghiên cứu chế tạo trên nền tảng Y-7.

Như vậy, đây là người đầu tiên trong chính quyền Trung Quốc công khai thừa nhận với báo giới về vấn đề này.

Báo Nga cho biết, sau khi hình ảnh 3 máy bay cảnh báo sớm ZDK-03 (Trung Quốc xuất khẩu cho Pakistan năm 2011) được lưu truyền trên mạng, Phó kiến trúc sư trưởng của máy bay này, ông Tào Thần đã trả lời phỏng vấn tạp chí “Tri thức vũ khí”, nói về quan điểm của mình đối với xu thế phát triển máy bay cảnh báo sớm của Trung Quốc và thế giới, trong đó có Nga.

Tào Thần nhấn mạnh, linh kiện chính quan trọng của máy bay cảnh báo sớm radar mảng pha quét điện tử chủ động của Trung Quốc đã được nội địa hoá, phương án kỹ thuật riêng đã có đột phá.

Có thể nói, Tào Thần là quan chức Trung Quốc đầu tiên thừa nhận với báo giới rằng máy bay cảnh báo sớm trang bị cho tàu chiến đầu tiên có thể sử dụng Y-7.

Máy bay vận tải Y-7 của Trung Quốc

Nhưng, ông thẳng thắn thừa nhận, cải tạo Y-7 thành máy bay cảnh báo sớm trang bị cho tàu sân bay thực sự đối mặt với rất nhiều khó khăn, có rủi ro nhất định.

Báo Nga cho biết, khi nói về máy bay cảnh báo sớm ZDK-03 do Trung Quốc xuất khẩu cho Pakistan, Tào Thần cho biết, Tập đoàn Khoa học kỹ thuật Điện tử Trung Quốc (thành lập năm 2002) là “đội quốc gia” về công nghệ thông tin-điện tử của công nghiệp quốc phòng Trung Quốc,

là một trong 10 tập đoàn công nghiệp quân sự lớn của Trung Quốc hiện nay, chủ yếu tiến hành nghiên cứu chế tạo các loại sản phẩm thông tin điện tử quân dụng, dân dụng, bao gồm linh kiện điện tử, máy tính, phần mềm cơ bản, hệ thống chỉ huy tự động hoá, liên kết dữ liệu, máy bay cảnh báo sớm.

Ông còn tiết lộ, “ZDK” trong tên của máy bay cảnh báo sớm ZDK-03 chính là viết tắt ghép âm của Tập đoàn Khoa học kỹ thuật Điện tử Trung Quốc (Zhong Dian Ke), con số 03 cho biết đây là loại máy bay cảnh báo sớm thứ ba được Tập đoàn Khoa học kỹ thuật Điện tử Trung Quốc nghiên cứu chế tạo, kế tiếp “Không Cảnh 2000” (KJ-2000) và “Không Cảnh 200” (KJ-200).

Khi nói đến công nghệ radar của máy bay cảnh báo sớm Trung Quốc và vị thế của nó trên thế giới, Tào Thần cho biết, hiện nay xu thế chính phát triển radar máy bay là sử dụng mảng pha quét điện tử chủ động.

Trong lĩnh vực này, công nghiệp quốc phòng Trung Quốc đã thực hiện được bước nhảy từ quét cơ học đến quét điện tử chủ động, đã hoàn thành đột phá về công nghệ.

Trung Quốc đã nghiên cứu chế tạo được radar cảnh báo sớm tầm xa mảng pha quét điện tử chủ động, có thể bảo đảm các chùm sóng radar đồng thời tiến hành quét điện tử cả hướng ngang mặt nước và hướng tầm cao, từ đó thúc đẩy trang bị radar kiểm soát hoả lực của máy bay chiến đấu sử dụng mảng pha quét điện tử chủ động.

Máy bay cảnh báo sớm ZDK-03.

Nhà thiết kế Trung Quốc cho rằng, Israel và Thuỵ Điển là các nước trang bị tương đối sớm radar cảnh báo sớm mảng pha quét điện tử chủ động, còn Mỹ là nước trang bị sớm nhất radar kiểm soát hoả lực trên máy bay mảng pha quét điện tử chủ động, trang bị trên F-22.

Châu Âu hiện cũng đang trang bị radar kiểm soát hoả lực trên máy bay mảng pha quét điện tử chủ động, như “Cuồng phong” (Tornado) của Anh.

Một hướng phát triển quan trọng của radar trên máy bay là số hoá, trình độ số hoá của radar cảnh báo sớm trên máy bay Trung Quốc đã đứng ở vị trí dẫn đầu quốc tế.

Báo Nga cho biết, khi nói về trình độ nội địa hoá các linh kiện radar trang bị cho máy bay của Trung Quốc như ống khuếch đại máy phát, chip vi xử lý, phần mềm chương trình, Tào Thần cho rằng, tất cả các linh kiện radar máy bay của Trung Quốc đều đã tiến hành nội địa hoá.

Chip vi xử lý (cần cho xử lý số liệu tốc độ cao của radar) được Trung Quốc tự nghiên cứu phát triển.

Về phương diện máy tính, tuy sử dụng hàng thương mại hiện có là một xu thế, hệ thống xử lý số liệu trên máy bay không cần sử dụng máy tính quân dụng phát triển riêng, có thể trực tiếp mua trên thị trường, nhưng điều này chắc chắn sẽ tạo mầm hoạ an toàn thông tin cho vũ khí trang bị của Trung Quốc.

Vì vậy, những năm gần đây, Trung Quốc kiên trì thúc đẩy nội địa hoá phần mềm, phần cứng cơ bản của máy tính. Trung Quốc đã sử dụng những trang thiết bị nội địa làm nền tảng, nghiên cứu chế tạo thành công máy bay cảnh báo sớm KJ-2000, KJ-200 và ZDK-03.

Có thể nói, thông qua nội địa hoá các trang bị làm nền và linh kiện quan trọng, Trung Quốc đã từng bước nắm được quyền chủ động phát triển máy bay cảnh báo sớm.

Máy bay cảnh báo sớm KJ-2000 của Trung Quốc

Báo Nga cho biết, khi đề cập đến vấn đề tương thích điện từ trong nghiên cứu chế tạo máy bay cảnh báo sớm, nhà thiết kế Trung Quốc nhấn mạnh, lực lượng trang bị KJ-2000 đánh dấu Trung Quốc đã hoàn toàn giải quyết được vấn đề nan giải này.

Sau đó, khi giải quyết vấn đề tương thích điện từ của KJ-200 và ZDK-03, thì không còn mắc phải khó khăn về công nghệ nữa.

Ông còn cho biết, nhìn vào các biện pháp kỹ thuật, chủ yếu có 4 phương pháp giải quyết chính là cách ly tần suất, cách ly không gian, cách ly phân cực và cách ly thời gian.

Về vấn đề tản nhiệt của radar và các thiết bị khác của máy bay cảnh báo sớm, đặc biệt là trong môi trường nóng bức của Pakistan hoặc các nước Trung Đông, Tào Thần cho rằng, lượng tiêu hao điện năng của radar tương đối lớn, công suất cao nhất của radar cảnh báo sớm của máy bay có thể lên tới hàng trăm kW.

Đối với radar cảnh báo sớm mảng pha quét điện tử bị động, nhiệt lượng tán phát chủ yếu thông qua hai bộ phận bên trong đỉnh lồng và máy phát trung tâm trong cabin.

Máy phát toả nhiệt quá lớn, thông thường áp dụng phương pháp làm lạnh chất lỏng. Đỉnh lồng có thể làm lạnh nhờ gió bắt buộc.

Đối với radar cảnh báo sớm mảng pha quét điện tử chủ động, trong khoang cơ bản không có thiết bị toả nhiệt lớn.

Đối với hàng trăm nghìn mô-dun thu phát ở đỉnh lồng, nếu công suất tương đối lớn, có thể dùng chất lỏng làm lạnh, ví dụ như KJ-2000. Nếu công suất không lớn, có thể dùng gió làm lạnh, chẳng hạn KJ-200.

Máy bay cảnh báo sớm KJ-200 của Trung Quốc

Báo Nga cho hay, khi nói đến vấn đề nghiên cứu phát triển máy bay cảnh báo sớm dùng cho tàu sân bay nội địa được dư luận quan tâm, Tào Thần cho biết, máy bay cảnh báo sớm E-2 của Mỹ có trọng lượng cất cánh tối đa là 26 tấn, trang bị sớm nhất cho tàu sân bay 80.000 tấn.

Tàu sân bay hiện nay của Trung Quốc khoảng 60.000 tấn. So sánh cho thấy, Y-12 với trọng lượng cất cánh tối đa 5,3 tấn, tải trọng 1,7 tấn là quá nhỏ, trong khi đó Y-7 với trọng lượng cất cánh tối đa 21 tấn, tải trọng 4,7 tấn, tuy tương đối tiếp cận E-2, nhưng Y-7 có trọng lượng cất cánh tối đa phải nhẹ hơn nhiều, độ dài và sải cánh phải lớn hơn nhiều so với máy bay C-2A của E-2, vì vậy sử dụng Y-7 trên tàu sân bay tương đối khó khăn.

Hơn nữa C-2 chuyên được nghiên cứu chế tạo cho máy bay cảnh báo sớm trên tàu, đã tiến hành rất nhiều thiết kế đặc biệt để phối hợp với tàu sân bay, chẳng hạn cánh có thể gấp lại, độ cao chân lồng radar có thể lên xuống…

Nếu muốn biến Y-7 thành một loại máy bay cảnh báo sớm trang bị cho tàu chiến, ngoài việc phải lắp thêm thiết bị đặc biệt khác, e rằng phải cải tiến tương tự như C-2, do đó lượng công việc có thể không thua kém nghiên cứu chế tạo một loại máy bay cảnh báo sớm mới trang bị cho tàu chiến.

Nhưng, trong điều kiện không có trang bị nền tốt hơn hiện nay, cá nhân ông cho rằng, Y-7 có thể vẫn là sự lựa chọn quan trọng nhất.

Máy bay cảnh báo sớm E-2 Hawkeye của Mỹ.

E-2 Hawkeye

Máy bay vận tải C-2 của Hải quân Mỹ.

Đông Bình (Theo báo Phương Đông)
Đang tải tin...