Xã hội hóa nâng chất lượng tiếng Anh: Chính sách đã mở, nhu cầu rõ, cần hướng dẫn để trường tổ chức

01/04/2026 09:20
Thi Thi
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Xã hội hóa giảng dạy tiếng Anh phải đi kèm với một khung chính sách đủ mạnh để đảm bảo chất lượng và công bằng.

Thực hiện chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đặc biệt là định hướng nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc tổ chức các chương trình làm quen, bổ trợ ở bậc mầm non và tăng cường giảng dạy ngoại ngữ, trong có tiếng Anh trong nhà trường đã và đang trở thành một nhu cầu thực tiễn.

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, ông Lê Hoàng Phong - nhà sáng lập kiêm Giám đốc học thuật Tổ chức giáo dục YOUREORG nhìn nhận, xã hội hóa giáo dục tiếng Anh không còn là lựa chọn, mà là tất yếu trong bối cảnh nhu cầu tăng nhanh và khả năng đáp ứng của hệ thống công lập còn hạn chế, đặc biệt về chất lượng giáo viên giữa các vùng. Vấn đề cốt lõi hiện nay không phải là “có làm hay không”, mà là cách thiết kế và vận hành quá trình này.

Thực tế cho thấy, khu vực ngoài nhà nước - từ trung tâm ngoại ngữ, nền tảng trực tuyến đến các chương trình liên kết đã góp phần mở rộng cơ hội tiếp cận, tạo hệ sinh thái học tập linh hoạt, thậm chí đi trước về phương pháp, công nghệ và chuẩn đầu ra. Điều này rất quan trọng khi tiếng Anh đã trở thành năng lực nền tảng trong hội nhập.

Xã hội hóa giáo dục tiếng Anh cần đi kèm với khung chính sách, đảm bảo chất lượng và công bằng

Từ góc nhìn với tư cách một người làm giáo dục và nghiên cứu chính sách, ông Phong cho rằng, rủi ro lớn là xu hướng lệch về logic thị trường, khiến cơ hội học tập phụ thuộc vào khả năng chi trả, làm gia tăng chênh lệch giữa các nhóm học sinh. Vì vậy, vai trò của Nhà nước không thể thu hẹp mà cần được tái định nghĩa theo hướng điều tiết chiến lược.

"Xã hội hóa giảng dạy tiếng Anh phải đi kèm với một khung chính sách đủ mạnh để đảm bảo chất lượng và công bằng. Điều này bao gồm việc thiết lập tiêu chuẩn rõ ràng về năng lực giáo viên, chương trình đào tạo, cơ chế đánh giá đầu ra, và đặc biệt là hệ thống giám sát minh bạch đối với các đơn vị cung cấp dịch vụ. Đồng thời, cần đầu tư có trọng điểm vào những khu vực yếu thế, nơi thị trường không có động lực can thiệp", ông Phong nhìn nhận.

Bên cạnh đó, theo ông Phong, xã hội hóa hiện vẫn thiên về cung ứng dịch vụ, thiếu cơ chế nâng cao năng lực hệ thống. Do đó, cần thúc đẩy hợp tác công - tư trong đào tạo giáo viên, phát triển chương trình và chuyển giao công nghệ để tạo hiệu ứng lan tỏa.

998fb6e7-f095-4a5e-860a-1aba2504cc64.jpg
Ông Lê Hoàng Phong - nhà sáng lập kiêm Giám đốc học thuật Tổ chức giáo dục YOUREORG. Ảnh: NVCC.

Với vai trò là nhà sáng lập kiêm Giám đốc học thuật Tổ chức giáo dục YOUREORG, qua quá trình tiếp xúc, làm việc với giáo viên trường công, theo ông Phong, "điểm nghẽn" lớn nhất của nguồn nhân lực nằm ở cấu trúc khiến năng lực giáo viên chưa thể được vận hành trong thực tế.

Giám đốc học thuật Tổ chức giáo dục YOUREORG lý giải: "Nhiều giáo viên hiểu và sẵn sàng áp dụng phương pháp dạy học hiện đại, chú trọng giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ. Nhưng trong thực tế, họ buộc phải ưu tiên cách dạy "an toàn" để đảm bảo điểm số, do áp lực chương trình, sĩ số lớp đông và cách đánh giá vẫn thiên về ngữ pháp, từ vựng. Khi kết quả bị lượng hóa chủ yếu bằng điểm số, lựa chọn này gần như là tất yếu. Đây chính là nghịch lý lớn nhất: Chúng ta đòi hỏi nâng chuẩn giáo viên nhưng lại thiếu điều kiện để họ phát huy năng lực.

Liên quan đến việc đưa giáo viên nước ngoài, giáo viên bản ngữ, hoặc giáo viên từ các trung tâm vào trường học thông qua các đơn vị liên kết, ông Phong cho rằng đây là giải pháp có giá trị. Điểm mạnh rõ nhất là tạo ra môi trường giao tiếp thực chất - điều mà lớp học hiện nay còn thiếu. Những giờ học này giúp học sinh tự tin hơn, chủ động hơn trong sử dụng tiếng Anh.

Giá trị rõ nhất của giải pháp này nằm ở việc tạo ra môi trường sử dụng ngôn ngữ một cách thực chất, điều mà lớp học trong trường công hiện nay gặp nhiều hạn chế. Trong một lớp học phổ thông điển hình, sĩ số thường đông, thời lượng mỗi tiết học hạn chế, và áp lực hoàn thành nội dung chương trình rất lớn. Trong điều kiện đó, giáo viên buộc phải tối ưu hóa thời gian theo hướng truyền đạt kiến thức nhanh và kiểm soát lớp học hiệu quả. Các hoạt động đòi hỏi tương tác nhiều, như thảo luận, đóng vai hay giao tiếp tự nhiên, thường bị thu hẹp hoặc cắt giảm vì khó triển khai trên diện rộng và khó kiểm soát tiến độ.

Bên cạnh đó, cách đánh giá hiện nay vẫn ưu tiên độ chính xác của ngữ pháp và từ vựng hơn là khả năng sử dụng ngôn ngữ trong ngữ cảnh. Điều này khiến việc dành thời gian cho các hoạt động giao tiếp trở thành một lựa chọn "ít an toàn" về mặt kết quả học tập. Khi không được đo lường, thì rất khó trở thành ưu tiên.

"Chính vì vậy, cái thiếu ở đây là điều kiện để tiếng Anh được sử dụng như một công cụ giao tiếp trong lớp học. Khi giáo viên nước ngoài hoặc giáo viên từ các đơn vị liên kết tham gia, họ thường mang theo những thiết kế bài học tập trung vào tương tác, phản xạ và sử dụng ngôn ngữ trong tình huống cụ thể. Điều này ngay lập tức tạo ra một không gian học khác với lớp học thông thường, nơi học sinh được nói nhiều hơn, thử nghiệm nhiều hơn và ít sợ sai hơn. Tác động này là có thật, và có thể thấy rõ trong ngắn hạn, đặc biệt ở sự tự tin và thái độ học tập của học sinh.

Giải pháp đưa giáo viên bên ngoài vào không chỉ mang hiệu quả, mà còn giải quyết được phần "thiếu môi trường" mà không cần thay đổi cấu trúc lớp học hiện tại. Nói cách khác, đây là cách bổ sung một yếu tố mà hệ thống đang thiếu, nhưng không đụng đến những ràng buộc đã khiến yếu tố đó không thể tồn tại từ bên trong ngay từ đầu", ông Phong giải thích.

Cũng theo ông Phong, cần xác định vai trò của giáo viên bản ngữ từ đơn vị liên kết trong hệ thống. Nếu họ chỉ tham gia như một lực lượng giảng dạy bổ sung, thì tác động sẽ dừng ở mức ngắn hạn. Nhưng nếu họ được tích hợp vào quá trình phát triển chuyên môn của giáo viên trong trường, cùng thiết kế bài học, cùng quan sát lớp học và cùng điều chỉnh thực hành, thì khi đó giải pháp này mới bắt đầu tạo ra thay đổi từ bên trong.

Điểm cần nhìn nhận rõ là, cải thiện chất lượng dạy và học tiếng Anh không thể chỉ dựa vào việc “bổ sung môi trường” từ bên ngoài. Nó đòi hỏi phải thay đổi chính những điều kiện đã khiến môi trường đó không thể hình thành trong lớp học ban đầu. Khi những điều kiện này chưa được điều chỉnh, thì mọi giải pháp, dù hiệu quả ở bề mặt, vẫn khó tạo ra chuyển dịch mang tính nền tảng.

Cần có quy định, hướng dẫn cụ thể để các trường chủ động hơn trong xã hội hóa nâng chất lượng

Nhà sáng lập kiêm Giám đốc học thuật Tổ chức giáo dục YOUREORG nhìn nhận thêm, để triển khai hiệu quả xã hội hóa giáo dục tiếng Anh, phía cơ quan quản lý giáo dục cần có những đề án, quy định, hướng dẫn cụ thể để các trường học có thể chủ động hơn trong quá trình này. Đặc biệt, điều quan trọng là một khung bảo đảm chất lượng đủ rõ nét cho các trường được linh hoạt, thực hiện có hiệu quả.

Trước hết, cần phân biệt rõ các loại chương trình, chẳng hạn như "làm quen", "bổ trợ", "tăng cường" - vốn khác nhau về mục tiêu, cường độ và mức độ can thiệp học thuật. Nếu không tách bạch, việc quản lý sẽ dễ rơi vào tình trạng lộn xộn do dùng chung một cách tiếp cận cho những hoạt động rất khác nhau.

Thứ hai, hướng dẫn nên tập trung vào ba trục cốt lõi: Chuẩn chất lượng tối thiểu; chuẩn đội ngũ và học liệu; cùng với minh bạch tài chính và sự tự nguyện. Đây là những "điểm chốt" để kiểm soát chất lượng mà không cần can thiệp sâu vào cách làm cụ thể của từng trường.

Thứ ba, tại các đô thị lớn, vấn đề không còn là thiếu mà là "thừa lựa chọn, thiếu chuẩn phân biệt". Khi quá nhiều đơn vị cùng tham gia, nhà trường và phụ huynh dễ bị cuốn vào các tín hiệu bề mặt như thương hiệu, người nước ngoài đứng lớp, hay số tiết học tăng thêm, trong khi điều cần quan tâm hơn là giá trị học tập thực sự. Do đó, cơ quan quản lý cần thiết kế “luật chơi” rõ ràng - từ tiêu chí chọn đối tác, hợp đồng mẫu đến cơ chế công khai và phản hồi - thay vì làm thay nhà trường.

Quan trọng hơn, cần đặt lại vai trò của nhà trường trong các chương trình xã hội hóa. Theo đó, nhà trường phải được xác lập là chủ thể chịu trách nhiệm học thuật, có năng lực thẩm định và kiểm soát chương trình. Nếu không, xã hội hóa rất dễ trượt thành thị trường hóa, còn nhà trường thì bị đẩy vào vai trò trung gian hành chính.

"Chủ trương đã mở, hành lang pháp lý đã rộng hơn, nhu cầu xã hội cũng rất rõ. Nhưng càng thuận lợi thì càng cần một tầng điều phối tinh vi hơn. Không phải để siết lại, mà để bảo đảm rằng sự linh hoạt phục vụ chất lượng, chứ không làm xói mòn chất lượng. Theo tôi, thước đo của một chính sách xã hội hóa tốt không nằm ở chỗ có bao nhiêu chương trình được mở ra, mà ở chỗ hệ thống có giữ được ba nguyên tắc hay không, đó là đúng mục tiêu giáo dục, minh bạch với phụ huynh, và không làm gia tăng bất bình đẳng trong cơ hội học tập", ông Phong nhấn mạnh.

481667020-979037134319820-1600521886008411054-n.jpg
Ảnh minh họa: YOUREORG.

Ông Lê Hoàng Phong cũng chỉ ra một số khía cạnh thuận lợi cho học sinh, phụ huynh khi triển khai xã hội hóa giáo dục tiếng Anh ngay trong nhà trường.

Theo đó, việc học tiếng Anh tại các trung tâm bên ngoài với chi phí khá cao, trong khi hiệu quả không thể thấy ngay, đang tạo áp lực không nhỏ cho nhiều gia đình. Trong bối cảnh đó, đưa chương trình vào nhà trường, tổ chức học đều đặn với chi phí "dễ chịu" hơn rõ ràng là một giải pháp mang tính thực tiễn. Học sinh có cơ hội tiếp xúc sớm, thường xuyên hơn, giảm tâm lý e ngại; phụ huynh cũng bớt áp lực về thời gian, đưa đón và chi phí.

"Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn ở những lợi ích này, rất dễ bỏ qua câu hỏi cốt lõi: mô hình này đang giải quyết được gì, và chưa giải quyết được gì. Thực chất, đây không phải là giảm chi phí tuyệt đối, mà là tái phân bổ chi phí và tổ chức lại việc học theo hướng thuận tiện hơn. Điều này giúp mở rộng tiếp cận.

Giá trị của mô hình này không nằm ở bản thân việc "đưa vào trường", mà nằm ở cách nó được thiết kế. Nếu chỉ dừng ở việc cung cấp thêm giờ học với chi phí hợp lý hơn, thì đây là một giải pháp tốt ở mức độ ngắn hạn. Nhưng nếu được thiết kế như một phần của chiến lược nâng cao chất lượng dạy học, gắn với việc cải thiện phương pháp, tăng cường tương tác, và tạo ra sự thay đổi trong thực hành lớp học, thì có thể tạo ra tác động dài hạn", ông Phong đánh giá.

Ông Phong đồng thuận rằng liên kết đào tạo là một hướng đi cần thiết trong bối cảnh hệ thống giáo dục ngày càng mở và nhu cầu học tập đa dạng. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi không nằm ở việc "có liên kết hay không", mà ở chỗ phải có tiêu chí rõ ràng để đánh giá và lựa chọn đối tác.

Ông Phong đồng thuận với nhận định rằng liên kết đào tạo là một hướng đi cần thiết. Khi hệ thống đã mở và nhu cầu học tập ngày càng đa dạng, việc có thêm các đơn vị tham gia là điều tất yếu. Tuy nhiên, cần có tiêu chí rõ ràng để đánh giá và lựa chọn các đơn vị liên kết.

Theo cách tiếp cận của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế), chất lượng giáo dục cần được nhìn từ kết quả học tập thực của người học, thay vì các yếu tố đầu vào. Đi sâu hơn, mô hình đánh giá của Ofsted (Văn phòng Tiêu chuẩn Giáo dục, Dịch vụ và Kỹ năng của Vương quốc Anh) chỉ ra ba lớp cốt lõi là mục tiêu, triển khai và tác động.

Ngoài ra, theo ông Phong, một chương trình có giá trị thực phải để lại “dấu vết chuyên môn” trong nhà trường. Giáo viên học được cách tổ chức hoạt động, cách tạo môi trường giao tiếp, cách đánh giá tiến bộ của học sinh, và dần có thể tự triển khai những thực hành đó trong lớp học của mình. Khi đó, liên kết không còn là bổ sung nguồn lực, mà trở thành một cơ chế nâng cấp năng lực nội sinh của hệ thống.

Mục tiêu đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai, không thể thiếu vai trò của xã hội hóa

Cùng trao đổi, Đại biểu Quốc hội khóa XII, XIII Lê Như Tiến - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng (nay là Ủy ban Văn hóa và Xã hội) của Quốc hội nhìn nhận, xã hội hóa không chỉ là một giải pháp tình thế mà là một định hướng lớn, xuyên suốt trong các chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm huy động tổng lực các nguồn lực xã hội cho phát triển. Riêng trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là giáo dục ngoại ngữ, định hướng này ngày càng được cụ thể hóa bằng nhiều chính sách mang tính chiến lược.

le-nhu-tien.png
Đại biểu Quốc hội khóa XII, XIII Lê Như Tiến - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng (nay là Ủy ban Văn hóa và Xã hội) của Quốc hội. Ảnh: Thi Thi.

Ông Tiến dẫn chứng, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục đã đặt ra mục tiêu đến năm 2030, đạt kết quả bước đầu về nâng cao năng lực công nghệ, trí tuệ nhân tạo và năng lực tiếng Anh ở bậc phổ thông. Theo đó, tăng cường việc dạy và học ngoại ngữ, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học và dạy ngôn ngữ của các nước láng giềng. Nâng chuẩn tiếng Anh cho giáo viên và học sinh các cấp học.

Quyết định 2732/QĐ-TTg ngày 16/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Đề án tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2025-2035, định hướng đến năm 2045 có nội dung: "Quán triệt chủ trương của Đảng và Nhà nước trong dạy và học ngoại ngữ, dạy và học bằng ngoại ngữ cho các cấp học và trình độ đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Đối với việc dạy và học ngoại ngữ là tiếng Anh, thực hiện theo Quyết định số 2371/QĐ-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ"; "Xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực từ các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân đầu tư nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ; tăng cường hội nhập quốc tế trong dạy và học ngoại ngữ, dạy và học bằng ngoại ngữ và các cơ chế, chính sách khác"...

Từ những định hướng trên, ông Lê Như Tiến cho rằng, xã hội hóa giáo dục tiếng Anh không chỉ là cần thiết mà còn là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh hiện nay - nhu cầu học tập ngày càng cao trong khi chất lượng và số lượng đội ngũ giáo viên trường công vẫn còn có hạn chế.

Ông Tiến nhấn mạnh một trong những giải pháp thực tiễn đang được nhiều địa phương triển khai, trong đó có thành phố Hà Nội là việc đưa giáo viên nước ngoài, giáo viên bản ngữ từ các trung tâm ngoại ngữ vào trường học thông qua các đơn vị liên kết. Theo ông, đây không chỉ là giải pháp bổ sung nguồn nhân lực, mà còn góp phần quan trọng trong việc hình thành môi trường học tập mang tính tương tác cao - nơi học sinh có thể thường xuyên thực hành, giao tiếp và "ngấm" ngôn ngữ một cách tự nhiên, thay vì chỉ dừng lại ở kiến thức ngữ pháp hay bài tập trên lớp.

Tuy nhiên, ông Lê Như Tiến cũng lưu ý, để mô hình này phát huy hiệu quả lâu dài và tránh "biến tướng" trong quá trình triển khai, rất cần có các quy định, hướng dẫn cụ thể hơn từ cơ quan quản lý. Trong đó, cần làm rõ tiêu chí lựa chọn đối tác liên kết, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên tham gia giảng dạy, cũng như xây dựng khung chương trình phù hợp giữa nội dung chính khóa và các hoạt động bổ trợ. Đồng thời, việc tổ chức các chương trình làm quen, tăng cường hay tích hợp giảng dạy ngoại ngữ cần được định hướng rõ ràng về mục tiêu, phương pháp và cách thức đánh giá, bảo đảm tính thống nhất và chất lượng.

Đặc biệt, tại các đô thị lớn như Hà Nội, nơi nhu cầu học tiếng Anh tăng cao và các mô hình xã hội hóa phát triển nhanh, nếu thiếu một hành lang pháp lý đầy đủ và cơ chế giám sát hiệu quả, rất dễ dẫn đến tình trạng triển khai thiếu đồng đều, thậm chí nảy sinh những bất cập. Vì vậy, theo ông, việc khuyến khích xã hội hóa, Nhà nước cần đóng vai trò trong việc định hướng và đảm bảo mọi hoạt động đều hướng tới mục tiêu cuối cùng là nâng cao năng lực ngoại ngữ thực chất cho học sinh.

Xã hội hóa trong dạy học ngoại ngữ: Hiệu quả phụ thuộc cách triển khai

Từ góc độ nhà quản lý giáo dục lâu năm, thầy Nguyễn Văn Ngai - nguyên Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, việc cho học sinh làm quen với tiếng Anh từ sớm mang lại nhiều lợi ích thiết thực và bền vững. Các em không chỉ tiếp thu nhanh hơn mà còn hình thành phản xạ ngôn ngữ tự nhiên, qua đó phát triển năng lực giao tiếp, tư duy linh hoạt và sự tự tin trong môi trường học tập hiện đại, hội nhập. Đây là những yếu tố quan trọng mà phương pháp dạy học truyền thống khó có thể bù đắp nếu bắt đầu quá muộn.

nguyen-van-ngai.png
Thầy Nguyễn Văn Ngai - nguyên Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Bảo Đăng.

Thầy Ngai cũng nhìn nhận việc tổ chức các chương trình tiếng Anh ngay trong nhà trường, đặc biệt dưới hình thức xã hội hóa, đã góp phần giảm bớt áp lực cho phụ huynh có nhu cầu. Thay vì phải cho con theo học thêm tại nhiều trung tâm bên ngoài với chi phí cao và thời gian di chuyển lớn, phụ huynh có thêm lựa chọn ngay trong môi trường học chính khóa, thuận tiện và phần nào tiết kiệm hơn.

Theo thầy Nguyễn Văn Ngai, việc đẩy mạnh xã hội hóa để triển khai các chương trình học theo nhu cầu của học sinh và phụ huynh, trong đó có tiếng Anh, đang đứng trước nhiều điều kiện thuận lợi. Hàng loạt chủ trương, chính sách gần đây đã tạo hành lang pháp lý và cơ chế "mở đường" cho phép các cơ sở giáo dục linh hoạt hơn trong việc tổ chức dạy học, huy động nguồn lực và hợp tác với các đơn vị bên ngoài nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Đây là cơ sở quan trọng để từng bước hiện thực hóa mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.

Tuy nhiên, thầy Ngai cũng nhấn mạnh: "Cùng với sự "mở" về cơ chế, rất cần sự rõ ràng và thống nhất trong hướng dẫn triển khai. Cụ thể, các cơ quan quản lý cần ban hành những quy định chi tiết hơn về việc tổ chức các chương trình làm quen, bổ trợ và tăng cường giảng dạy ngoại ngữ trong nhà trường. Chỉ khi có định hướng cụ thể, đồng bộ, các hoạt động xã hội hóa mới thực sự phát huy hiệu quả, đáp ứng đúng nhu cầu của người học mà vẫn bảo đảm tính chuẩn mực và công bằng trong giáo dục".

Thi Thi