Dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học sửa đổi đề cập đến nguyên tắc chung khi đặt tên cơ sở giáo dục đại học không được sử dụng các từ, cụm từ mang tính “quốc gia” hoặc thể hiện vị thế đặc biệt (“quốc tế”, “quốc gia”, “Việt Nam”, “Hồ Chí Minh”, “International”, “National”, “State”) trừ khi được cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Theo chuyên gia, việc siết chặt tên gọi không nhằm làm khó các cơ sở giáo dục, mà nhằm hướng tới một nền giáo dục thực chất, nơi chất lượng đào tạo được phản ánh đúng và đủ, thay vì dựa vào các yếu tố mang tính hình thức hoặc quảng bá.

“Siết” tên trường góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, lấy người học làm trung tâm

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Hà Thanh Toàn - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Cần Thơ (nay là Đại học Cần Thơ) cho biết, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo dự kiến siết chặt quy định về tên gọi các trường đại học là một chủ trương cần thiết và phù hợp với xu thế quản lý giáo dục đại học hiện nay.

image-20.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Hà Thanh Toàn - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Cần Thơ, Đại biểu Quốc hội đoàn thành phố Cần Thơ khóa XII. Ảnh: Mộc Trà

Trên thực tế, ở nhiều quốc gia, tên gọi của một cơ sở giáo dục đại học không chỉ là vấn đề hình thức mà còn gắn chặt với vị thế pháp lý, chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu và mức độ ảnh hưởng học thuật. Do đó, việc chuẩn hóa tên gọi là một bước quan trọng nhằm bảo đảm tính minh bạch của hệ thống giáo dục đại học, đồng thời bảo vệ quyền lợi chính đáng của người học và xã hội.

Theo thầy Toàn, trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam đang chuyển mạnh sang cơ chế tự chủ, cạnh tranh và hội nhập quốc tế, tên gọi của trường đại học càng có tác động lớn đến nhận thức của người học, phụ huynh và các đối tác. Những cụm từ như “quốc gia” hay “quốc tế” thường tạo cảm giác về quy mô, chất lượng và uy tín vượt trội, thậm chí được hiểu là đại diện cho quốc gia hoặc đạt chuẩn mực quốc tế. Nếu không được quản lý chặt chẽ, việc sử dụng các tên gọi này có thể dẫn đến tình trạng “đánh bóng thương hiệu”, gây nhầm lẫn cho người học, đặc biệt là trong khâu tuyển sinh, khi thí sinh và phụ huynh chưa có đủ thông tin để phân biệt giữa tên gọi và chất lượng thực tế.

“Do đó, tôi đồng tình với đề xuất của Bộ Giáo dục và Đào tạo bởi việc siết chặt tên gọi không nhằm làm khó các cơ sở giáo dục, mà nhằm hướng tới một nền giáo dục thực chất, nơi chất lượng đào tạo được phản ánh đúng và đủ, thay vì dựa vào các yếu tố mang tính hình thức hoặc quảng bá. Việc đặt tên trường cần gắn với sứ mệnh, chức năng, phạm vi hoạt động và năng lực đã được kiểm chứng, qua đó góp phần xây dựng một hệ thống giáo dục đại học lành mạnh, có trật tự và phát triển bền vững”, thầy Toàn nêu quan điểm.

Theo thầy Toàn, vấn đề khó nhất và mang tính quyết định đối với tính khả thi của chủ trương này nằm ở chỗ ai sẽ xây dựng tiêu chí, tiêu chí cụ thể ra sao và ai có thẩm quyền đánh giá. Nếu không có bộ tiêu chí cụ thể, rõ ràng và minh bạch rất dễ dẫn đến tranh cãi, khiếu nại, thậm chí tạo ra sự thiếu công bằng giữa các cơ sở giáo dục. Bởi trên thực tế, hiện nay có những trường đã sử dụng các cụm từ này từ rất lâu, gắn liền với lịch sử hình thành, uy tín học thuật và chất lượng đào tạo đã được xã hội thừa nhận.

“Tôi cho rằng việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá cần được tiếp cận một cách khoa học và toàn diện, bao gồm nhiều nhóm tiêu chí khác nhau. Trước hết là tiêu chí về chất lượng đào tạo, thể hiện qua chương trình đào tạo được kiểm định, chuẩn đầu ra, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm, cũng như mức độ gắn kết giữa đào tạo và nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động.

Bên cạnh đó là tiêu chí về đội ngũ giảng viên và nhà khoa học như tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ, năng lực nghiên cứu, công bố khoa học, khả năng tham gia các mạng lưới học thuật trong nước và quốc tế. Mặt khác, cũng cần xem xét tiêu chí về nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, bao gồm số lượng và chất lượng công trình nghiên cứu, dự án khoa học, mức độ đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội. Ngoài ra, tiêu chí về quản trị đại học, tài chính, cơ sở vật chất và mức độ hội nhập quốc tế cũng cần được đưa vào đánh giá một cách đầy đủ.

Trên cơ sở đó, tôi đề xuất cần thành lập một hội đồng hoặc ban thẩm định độc lập, có uy tín và đủ năng lực chuyên môn để xây dựng và áp dụng các tiêu chí đánh giá một cách thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Hội đồng này nên bao gồm đại diện của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các chuyên gia giáo dục đại học, nhà khoa học có uy tín, đại diện tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục, thậm chí có thể mời thêm các chuyên gia quốc tế trong những trường hợp cần thiết. Việc đánh giá cần được thực hiện theo quy trình rõ ràng, có công khai kết quả và có cơ chế giám sát, phản biện để bảo đảm tính khách quan và minh bạch”, thầy Toàn nêu quan điểm.

Ngoài ra, thầy Toàn bày tỏ, bên cạnh việc ban hành tiêu chí và thành lập hội đồng thẩm định, cần có lộ trình thực hiện phù hợp, tránh gây xáo trộn lớn cho hệ thống. Đối với những trường đã sử dụng các tên gọi này từ lâu, Bộ cần gia hạn thời gian để rà soát, đánh giá và điều chỉnh linh hoạt. Đồng thời, đối với những trường thực sự đạt chuẩn và có chất lượng tương xứng, việc cho phép tiếp tục sử dụng tên gọi là hoàn toàn hợp lý, vừa bảo đảm tính kế thừa, vừa khuyến khích các cơ sở giáo dục đầu tư nâng cao chất lượng một cách thực chất.

“Tựu chung, nếu được triển khai bài bản, minh bạch và có lộ trình rõ ràng, quy định về tên gọi trường đại học không chỉ góp phần chấn chỉnh những bất cập hiện nay, mà còn tạo động lực để các cơ sở giáo dục nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và quản trị.

Khi đó, tên gọi của trường đại học sẽ thực sự trở thành sự phản ánh trung thực của chất lượng và uy tín. Điều này không chỉ có lợi cho người học, mà còn góp phần nâng cao niềm tin của xã hội đối với hệ thống giáo dục quốc dân”, thầy Toàn nhấn mạnh.

Cùng bàn vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An - Đại biểu Quốc hội khoá XIII cho biết, thời gian qua vẫn tồn tại tình trạng một số cơ sở giáo dục sử dụng tên gọi mang tính gợi mở hoặc quảng bá, đặc biệt là các cụm từ như “quốc tế”, khiến xã hội và người học dễ nhầm lẫn giữa tên gọi và chất lượng đào tạo thực tế.

image-1.png
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An - Đại biểu Quốc hội khoá XIII. Ảnh: NVCC

Trong khi đó, khái niệm “quốc tế” trong giáo dục không phải là danh xưng hình thức, mà phải được xác lập trên cơ sở các chuẩn mực cụ thể về chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, điều kiện bảo đảm chất lượng, chuẩn đầu ra và mức độ hội nhập học thuật. Việc gắn mác “quốc tế” khi chưa đáp ứng các tiêu chí tương ứng không chỉ gây hiểu nhầm cho người học mà còn làm suy giảm tính minh bạch và uy tín chung của hệ thống giáo dục đại học.

Theo cô An, trong quá trình lựa chọn trường, học sinh và phụ huynh thường dựa nhiều vào tên gọi như một dấu hiệu nhận diện ban đầu về chất lượng và vị thế của cơ sở đào tạo. Nếu tên gọi mang tính đại diện cao nhưng không phản ánh đúng năng lực thực tế, người học có thể đưa ra quyết định sai lệch, dẫn đến những hệ lụy lâu dài về cơ hội học tập và việc làm. Do đó, việc chuẩn hóa tên gọi cần được nhìn nhận như một giải pháp bảo vệ người học, góp phần cung cấp thông tin chính xác, trung thực cho xã hội.

“Tôi cho rằng sức hút và uy tín của một cơ sở giáo dục đại học không nên được xây dựng trên những danh xưng mang tính hình thức, mà phải được hình thành từ chất lượng đào tạo thực chất. Các yếu tố như chất lượng chương trình, năng lực đội ngũ giảng viên, môi trường học tập, kết quả đầu ra và mức độ đóng góp cho xã hội mới là nền tảng bền vững tạo nên thương hiệu của một trường đại học. Việc lạm dụng các cụm từ mang tính thương hiệu trong tên gọi chỉ tạo ra lợi thế ngắn hạn trong tuyển sinh, nhưng về lâu dài có thể gây tổn hại đến niềm tin của người học và xã hội.

Do đó, cơ quan quản lý cần quy định cụ thể phạm vi áp dụng, tiêu chí xác định và trách nhiệm thực thi, tránh tình trạng áp dụng khác nhau giữa các cơ sở giáo dục. Đặc biệt, việc chuẩn hóa tên gọi cần gắn với hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng được công khai và minh bạch, để các trường có cơ sở đối chiếu, điều chỉnh và nâng cao chất lượng một cách thực chất.

Tuy nhiên, không phải tất cả các trường đang sử dụng những cụm từ này đều không đáp ứng yêu cầu, song nguyên tắc cần được quán triệt là ‘đúng chuẩn thì mới được sử dụng’. Những cơ sở đào tạo thực sự đạt các tiêu chí tương ứng cần được đánh giá công bằng và ghi nhận xứng đáng. Ngược lại, những trường hợp sử dụng tên gọi mang tính quảng bá, không phù hợp với năng lực và điều kiện thực tế, cần được yêu cầu điều chỉnh để bảo đảm kỷ cương và tính nghiêm minh của pháp luật”, cô An bày tỏ.

Cô An nhấn mạnh, về lâu dài, quy định này sẽ tạo ra tác động tích cực đối với toàn bộ hệ thống giáo dục đại học. Khi tên gọi không còn là công cụ cạnh tranh mang tính hình thức, các cơ sở đào tạo sẽ buộc phải tập trung nhiều hơn vào nâng cao chất lượng, đầu tư cho đội ngũ, chương trình và hoạt động học thuật. Điều này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, mà còn giúp xây dựng một môi trường giáo dục đại học minh bạch, lành mạnh, lấy người học làm trung tâm, đúng với tinh thần đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo.

Cần xây dựng lộ trình phù hợp, kèm theo điều khoản chuyển tiếp rõ ràng

Bàn luận về dự thảo trên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Phương - Hiệu trưởng Trường Đại học Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh nhận định, siết chặt việc đặt tên các cơ sở giáo dục đại học là chủ trương cần thiết, phù hợp với bối cảnh thực tiễn hiện nay.

image-26.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Phương - Hiệu trưởng Trường Đại học Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường

Theo thầy Phương, không ít trường sử dụng các cụm từ như “quốc gia”, “quốc tế”, “Việt Nam” hoặc những tên gọi dễ gây hiểu nhầm đã dẫn đến việc nhiều thí sinh, phụ huynh và xã hội gặp khó khăn khi phân biệt loại hình, vị thế pháp lý cũng như năng lực đào tạo của từng cơ sở. Do đó, việc cơ quan quản lý nhà nước siết chặt quy định về tên gọi nhằm lập lại trật tự trong hệ thống giáo dục đại học, bảo đảm tính minh bạch và quyền lợi của người học là hoàn toàn có cơ sở.

“Tôi cho rằng nếu triển khai theo quy định mới, việc đổi tên sẽ không gây ảnh hưởng quá lớn đến hoạt động chung của các cơ sở giáo dục đại học. Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, nhiều trường đại học đã thực hiện thay đổi tên gọi nhưng công tác tuyển sinh, đào tạo và phát triển vẫn diễn ra ổn định. Bởi vậy, uy tín và thương hiệu của một cơ sở giáo dục đại học không nằm ở tên gọi, mà được khẳng định bằng chất lượng đào tạo, đội ngũ giảng viên, điều kiện học tập và sự đánh giá của người học cũng như xã hội. Khi chất lượng được bảo đảm và không ngừng nâng cao, việc thay đổi tên gọi sẽ không làm suy giảm giá trị cốt lõi của nhà trường.

Tuy nhiên, chúng ta cũng thẳng thắn nhìn nhận rằng, trong giai đoạn đầu sau khi đổi tên, các trường có thể đối mặt với một số khó khăn nhất định, đặc biệt là về nhận diện thương hiệu và công tác truyền thông. Khi tên gọi mới chưa kịp tạo được độ quen thuộc, thí sinh và phụ huynh có thể băn khoăn hoặc nhầm lẫn trong quá trình tìm hiểu thông tin tuyển sinh. Đây là thách thức mang tính ngắn hạn cần được các cơ sở giáo dục chủ động lường trước và chuẩn bị kỹ lưỡng. Hiện nay, hầu hết các trường đại học đều đã có bộ phận truyền thông chuyên trách và có kinh nghiệm trong việc cung cấp, quảng bá thông tin tuyển sinh. Nếu xây dựng được kế hoạch truyền thông bài bản, thông tin được công bố sớm, rõ ràng và nhất quán, quá trình chuyển đổi tên gọi sẽ không gây xáo trộn lớn”, thầy Phương nêu quan điểm.

Bên cạnh nỗ lực từ phía các cơ sở giáo dục, thầy Phương nhấn mạnh, vai trò đồng hành của các cơ quan báo chí vô cùng quan trọng bởi đây là kênh thông tin chính thống, có sức lan tỏa rộng, giúp xã hội, đặc biệt là thí sinh và phụ huynh, hiểu đúng bản chất của việc đổi tên, từ đó hạn chế những cách hiểu sai lệch hoặc lo ngại không cần thiết. Sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ phận truyền thông của các trường và các cơ quan báo chí sẽ góp phần quan trọng bảo đảm quá trình thực hiện quy định mới diễn ra thuận lợi.

“Ngoài ra, tôi đề xuất cơ quan quản lý nhà nước khi ban hành quy định siết chặt tên gọi cần xây dựng lộ trình phù hợp, kèm theo điều khoản chuyển tiếp rõ ràng. Điều này đặc biệt cần thiết đối với những cơ sở đã sử dụng tên gọi trong thời gian dài và đã gây dựng được thương hiệu nhất định. Một lộ trình hợp lý sẽ giúp các trường có đủ thời gian chuẩn bị về mặt pháp lý, truyền thông và tổ chức tuyển sinh, qua đó vừa đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, vừa hạn chế tối đa những xáo trộn không cần thiết đối với hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học”, thầy Phương bày tỏ.

Yên Đan