Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội đã thông qua Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm. Trong đó nhấn mạnh "đảm bảo quỹ đất xây dựng trường học các cấp đạt tối thiểu 10 - 12 m2/học sinh (trong đó: mầm non tối thiểu 12 m2/trẻ; phổ thông tối thiểu 10 m2/học sinh). Quy hoạch các mô hình trường liên cấp diện tích từ 5ha trở lên tại các khu vực đô thị mở rộng".

Năm 2026: toàn thành phố có 2.285.000 học sinh, trong đó: mầm non (491.355 học sinh); tiểu học (756.715 học sinh); trung học cơ sở (542.898 học sinh); trung học phổ thông (314.608 học sinh).

Với chỉ tiêu 10-15m2/học sinh, nhu cầu đất xây dựng trường học của toàn thành phố giai đoạn 2021-2025 cần tăng thêm tối thiểu so với năm 2026 là 6.158.291m2.

Đến năm 2030: toàn thành phố có khoảng 2.510.561 học sinh, trong đó: mầm non (781.035 học sinh); tiểu học (832.154 học sinh); trung học cơ sở (654.023 học sinh); trung học phổ thông (305.567 học sinh).

Với chỉ tiêu 10-15m2/học sinh, dự báo nhu cầu đất xây dựng trường học của toàn thành phố giai đoạn 2026-2030 cần tăng thêm tối thiểu so với năm 2026 là 2.400.000m2. [1]

Liên quan đến nội dung này, một số đại biểu Quốc hội và chuyên gia giáo dục cho rằng, để đảm bảo chất lượng dạy và học khi mở rộng quy mô trường lớp, việc giảm sĩ số mỗi lớp là hướng đi đúng đắn và cần thiết trong bối cảnh thực trạng quá tải học sinh đang diễn ra ở nhiều trường công lập trên địa bàn thủ đô.

Sĩ số học sinh/lớp vượt quy định gây áp lực lớn, giảm chất lượng giáo dục

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, ông Trương Xuân Cừ - Đại biểu Quốc hội Thành phố Hà Nội khóa XV cho rằng, chủ trương mở rộng quy mô trường lớp là định hướng cần thiết và có ý nghĩa lâu dài trong việc đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng gia tăng của người dân Thủ đô. Tuy nhiên, việc mở rộng quy mô trường lớp không thể chỉ dừng lại ở việc tăng số lượng cơ sở giáo dục, mà điều kiện tiên quyết là phải gắn với mục tiêu giảm sĩ số học sinh trên mỗi lớp.

truong-xuan-cu.jpg
Ông Trương Xuân Cừ - Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội khóa XV. Ảnh: quochoi.vn

“Các quy định hiện hành về sĩ số tối đa 35 học sinh/lớp ở bậc tiểu học và 45 học sinh/lớp ở bậc trung học cơ sở, trung học phổ thông không phải là những con số tùy ý, mà đã được xây dựng dựa trên nghiên cứu khoa học giáo dục và thực tiễn giảng dạy.

Khi sĩ số lớp học quá đông, giáo viên khó có thể triển khai hiệu quả phương pháp dạy học phân hóa, cá thể hóa, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục.

Thực tế cho thấy, tình trạng quá tải sĩ số vẫn đang diễn ra phổ biến ở nhiều trường công lập tại Hà Nội, có những lớp học lên tới trên 50 học sinh. Điều này không chỉ gây áp lực cho giáo viên mà còn làm giảm hiệu quả tiếp thu của học sinh.

Vì vậy, việc xây dựng thêm trường lớp trong thời gian tới phải hướng đến mục tiêu cốt lõi là “giảm tải” quy mô lớp học, từng bước đưa sĩ số về mức chuẩn, thậm chí ở những nơi có điều kiện có thể tiến tới quy mô 20-30 học sinh/lớp để nâng cao chất lượng dạy và học, tiệm cận với các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới”, ông Trương Xuân Cừ nhấn mạnh.

Khoản 1, Điều 16, Thông tư 28/2020/TT-BGDĐT ban hành điều lệ trường tiểu học quy định: "Mỗi lớp học có không quá 35 học sinh do một giáo viên chủ nhiệm phụ trách".

Khoản 3, Điều 16, Thông tư 32/2020/TT-BGDĐT ban hành Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học quy định: “...bảo đảm mỗi lớp học ở các cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông có không quá 45 học sinh”.

Trong khi đó, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Vinh - Viện trưởng, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho rằng, việc quy định sĩ số tối đa ở các bậc tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông chưa được đảm bảo trong thực tế xuất phát từ nhiều nguyên nhân mang tính hệ thống.

Trước hết, điều này nằm ở áp lực gia tăng dân số rất nhanh tại một số khu vực của Hà Nội, đặc biệt tại những nơi có tốc độ đô thị hóa cao, nơi tốc độ phát triển dân cư thường vượt xa khả năng mở rộng trường lớp. Nhiều khu vực chứng kiến sự bùng nổ nhà ở nhưng quỹ đất dành cho giáo dục, cơ sở vật chất trường học và đội ngũ giáo viên lại chưa kịp đáp ứng.

Bên cạnh đó, sự chênh lệch về chất lượng giữa các trường cũng khiến phụ huynh có xu hướng dồn con vào một số trường công lập được đánh giá cao, từ đó làm gia tăng áp lực sĩ số tại những trường này.

Việc lớp học vượt sĩ số quy định sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục. Khi lớp học quá đông, giáo viên gặp nhiều khó khăn trong việc quan tâm sát sao đến từng học sinh, hạn chế khả năng tổ chức dạy học phân hóa cũng như phát hiện sớm những trường hợp cần hỗ trợ. Về phía học sinh, các em bị giảm cơ hội tương tác, thực hành, thể hiện quan điểm cá nhân và phát triển đúng với năng lực riêng.

Về lâu dài, thực trạng này không chỉ làm suy giảm chất lượng giáo dục mà còn gia tăng áp lực nghề nghiệp đối với giáo viên, đồng thời ảnh hưởng đến sự công bằng trong tiếp cận giáo dục giữa các nhóm học sinh.

Theo Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, việc hướng tới giảm sĩ số lớp học xuống khoảng 30 học sinh là một hướng đi đúng và cần thiết, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang hướng tới một nền giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực và tôn trọng sự khác biệt của mỗi học sinh.

506348058-1131280345711963-6357447208017790876-n.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Vinh - Viện trưởng, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo). Ảnh: moet.gov.vn

“Một lớp học có khoảng 30 học sinh sẽ tạo điều kiện tốt hơn để giáo viên theo dõi tiến bộ của từng em, tổ chức các hoạt động học tập tích cực, tăng tương tác và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng giảm sĩ số chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng với các giải pháp đồng bộ như phát triển đội ngũ giáo viên đủ mạnh, đảm bảo cơ sở vật chất phù hợp và quản trị nhà trường tốt.

Vì vậy, giảm sĩ số nên được xem là một mục tiêu chiến lược, nhưng cần thực hiện theo lộ trình, có ưu tiên và có điều kiện bảo đảm đi kèm”, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Vinh bày tỏ.

Đồng quan điểm, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga - Phó Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội chuyên trách Thành phố Hải Phòng khẳng định, việc giảm sĩ số xuống khoảng 30 học sinh/lớp là một mục tiêu đúng đắn, phù hợp với xu hướng giáo dục hiện đại.

Theo bà Nga, thực tiễn quốc tế cho thấy, các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến đều hướng tới quy mô lớp học vừa phải để tối ưu hóa tương tác giữa thầy và trò, đồng thời cá thể hóa quá trình học tập.

Trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực, yêu cầu giảm sĩ số càng trở nên cấp thiết. Bởi lẽ, mô hình giáo dục mới không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn chú trọng kỹ năng, tư duy phản biện, làm việc nhóm,… Những yếu tố này khó có thể thực hiện hiệu quả trong lớp học quá đông.

“Tuy nhiên, cần nhìn nhận một cách thực tế rằng, việc giảm sĩ số không thể thực hiện một cách cơ học hay đồng loạt trong thời gian ngắn. Nếu không có sự chuẩn bị đồng bộ về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và nguồn lực tài chính, thì việc giảm sĩ số có thể dẫn đến hệ quả ngược, như thiếu phòng học, thiếu giáo viên, hoặc gia tăng áp lực ngân sách.

Do đó, theo tôi, giảm sĩ số nên được xác định là một mục tiêu trung hạn, có lộ trình rõ ràng. Trước mắt, có thể ưu tiên giảm sĩ số ở những khu vực quá tải nghiêm trọng, hoặc ở các cấp học nền tảng như tiểu học.

Đồng thời, cần kết hợp với việc đổi mới phương thức quản lý giáo dục, ứng dụng công nghệ và đa dạng hóa các loại hình trường học để giảm áp lực lên hệ thống công lập. Nói cách khác, giảm sĩ số không chỉ là “giảm con số”, mà là tái cấu trúc toàn diện hệ thống giáo dục theo hướng chất lượng, hiệu quả và bền vững”, Phó Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hải Phòng bày tỏ.

z6738059936174-644aeb3e0f893f57c5989d4ad4d6bd99.jpg
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga - Phó Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội chuyên trách Thành phố Hải Phòng. Ảnh: NVCC

Muốn giảm sĩ số lớp học hiệu quả cần đảm bảo những điều kiện then chốt

Để hiện thực hóa mục tiêu giảm sĩ số lớp học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, theo Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Vinh, cần bảo đảm đồng thời ba điều kiện then chốt.

Trước hết là về cơ sở vật chất. Việc giảm sĩ số đòi hỏi phải tăng số lượng trường, lớp và phòng học, đặc biệt tại những địa bàn đang trong tình trạng quá tải. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ nằm ở việc xây thêm, mà quan trọng hơn là phải đầu tư đúng vị trí, đúng nhu cầu thực tế và phù hợp với quy hoạch tổng thể.

Thứ hai là về đội ngũ giáo viên. Khi sĩ số giảm, số lớp sẽ tăng lên tương ứng, kéo theo nhu cầu bổ sung giáo viên. Nếu không giải quyết hiệu quả bài toán tuyển dụng, đào tạo và giữ chân đội ngũ, thì mục tiêu giảm sĩ số khó có thể triển khai một cách bền vững.

Thứ ba là nguồn lực tài chính. Mở rộng quy mô trường lớp là một mục tiêu đòi hỏi mức đầu tư lớn, không chỉ cho xây dựng cơ sở vật chất mà còn cho vận hành, trang thiết bị và nhân lực. Vì vậy, cần nhìn nhận việc giảm sĩ số như một khoản đầu tư chiến lược cho tương lai, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Hà Nội, thay vì chỉ coi đó là chi phí trước mắt.

thilop10tphcm.jpg
Ảnh minh họa

Mặt khác, dự kiến năm học 2026–2027, Hà Nội có khoảng 147.000 học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở nhưng chỉ khoảng hơn 81.000 em có cơ hội được học tại trường trung học phổ thông công lập. [2]

Theo Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, để đảm bảo cơ hội học tập nhiều hơn cho học sinh, bên cạnh các trường phổ thông công lập, hệ thống trường tư thục và cơ sở giáo dục nghề nghiệp cũng đóng vai trò hết sức quan trọng.

“Con số khoảng 60.000 học sinh không vào được trường trung học phổ thông công lập tại Hà Nội không phải là một "khoảng trống", mà cần được nhìn nhận như một phần tất yếu của chiến lược phân luồng sau trung học cơ sở. Vấn đề không phải là tất cả học sinh đều phải vào trường công lập, mà là mỗi học sinh cần có một lộ trình phù hợp với năng lực, sở trường và nhu cầu xã hội. Đây cũng là tinh thần của Luật Giáo dục về đa dạng hóa loại hình giáo dục và thúc đẩy giáo dục nghề nghiệp.

Trong bối cảnh đó, trường tư thục có thể chia sẻ áp lực với hệ thống công lập, đồng thời cung cấp thêm lựa chọn cho phụ huynh và học sinh. Nếu được quản lý tốt, đây không chỉ là “phương án thay thế”, mà còn là một cấu phần quan trọng của hệ thống giáo dục chất lượng cao.

Đối với giáo dục nghề nghiệp, cần thay đổi mạnh mẽ nhận thức xã hội. Không phải mọi con đường thành công đều đi qua đại học. Việc học nghề, nếu được tổ chức bài bản, gắn với nhu cầu thị trường lao động, hoàn toàn có thể mang lại cơ hội việc làm tốt và thu nhập ổn định cho người học sau khi ra trường.

Do đó, chính sách cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng và uy tín của hệ thống giáo dục tư thục và giáo dục nghề nghiệp, đồng thời có cơ chế hỗ trợ tài chính, học bổng, tín dụng học tập để học sinh có thể tiếp cận các lựa chọn này một cách công bằng”, bà Nga chia sẻ.

Ở góc độ nguồn lực, ông Trương Xuân Cừ cho rằng đối với khu vực đô thị như Hà Nội, bài toán đội ngũ giáo viên không phải là trở ngại quá lớn nếu có đủ cơ sở vật chất và cơ chế phù hợp.

Nguồn nhân lực giáo viên hiện nay vẫn còn dồi dào, bao gồm cả lực lượng đang hợp đồng hoặc làm việc ngoài ngành nhưng có đủ năng lực, có thể được huy động khi có thêm trường lớp và chính sách tuyển dụng hợp lý. Do đó, vấn đề then chốt vẫn là đầu tư hạ tầng, quỹ đất và có cơ chế cần thiết.

“Để đảm bảo công bằng trong tiếp cận giáo dục, Nhà nước cần nghiên cứu và ban hành các chính sách hỗ trợ thiết thực, đặc biệt đối với học sinh có hoàn cảnh khó khăn khi theo học tại các cơ sở giáo dục tư thục hoặc các trường nghề.

Chỉ khi có sự chính sách thực sự mạnh mẽ, kết hợp hài hòa giữa phát triển trường công, kiểm soát sĩ số và phát huy vai trò của khu vực tư thục, hệ thống giáo dục mới có thể đáp ứng tốt nhu cầu xã hội, đồng thời nâng cao chất lượng một cách bền vững”, ông Trương Xuân Cừ nhấn mạnh.

Tài liệu tham khảo:

[1] https://giaoduc.net.vn/phuong-an-phat-trien-gddt-thu-do-uu-tien-dau-tu-mang-luoi-tai-33-phuong-dang-thieu-truong-hoc-post258490.gd

[2] https://giaoduc.net.vn/ha-noi-123-truong-thpt-cong-lap-duoc-giao-81048-chi-tieu-vao-lop-10-nam-hoc-2026-2027-post259012.gd

Đình Nam