Sĩ số lớp quá đông ảnh hưởng đến trải nghiệm học tập của học sinh và tạo áp lực lớn cho giáo viên

07/04/2026 06:42
Hồng Mai
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Sĩ số lớp học tại nhiều trường ở đô thị lớn của nước ta vẫn ở mức cao, đặt ra không ít thách thức cho GV trong quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy.

Trong bối cảnh thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 với định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học, việc tổ chức dạy học theo hướng cá thể hóa, tăng cường tương tác đang trở thành yêu cầu tất yếu.

Tuy nhiên, thực tế sĩ số lớp học tại nhiều trường, đặc biệt ở các đô thị lớn của nước ta vẫn ở mức cao, đặt ra không ít thách thức đối với giáo viên trong quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy.

Từ kinh nghiệm giảng dạy và học tập trong môi trường quốc tế, một số giáo viên cho rằng, sĩ số lớp học hợp lý không chỉ tạo điều kiện thuận lợi để triển khai các phương pháp dạy học hiện đại, mà còn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục một cách thực chất và bền vững.

Sĩ số các trường học ở nước ngoài là bao nhiêu?

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, cô Nguyễn Phương Anh - hiện đang theo học chương trình Thạc sĩ Quản lý Giáo dục tại University College London (Vương quốc Anh) cho biết: “Song song với quá trình học tập tại Vương quốc Anh, tôi cũng tham gia giảng dạy tình nguyện tại một trường trung học ở đất nước này, cấp KS3 (giai đoạn học tập thứ 3 trong hệ thống giáo dục quốc gia Anh, dành cho học sinh từ 11-14 tuổi), với sĩ số trung bình khoảng 20-25 học sinh/lớp học.

Trong thời gian tham gia Chương trình Fulbright Teaching Excellence and Achievement tại Hoa Kỳ, tôi có cơ hội giảng dạy tại một trường phổ thông công lập, ở các khối lớp từ lớp 9 đến lớp 12. Tại đây, sĩ số lớp học dao động khoảng 15-20 học sinh/lớp.

Tại Việt Nam, tôi từng có kinh nghiệm giảng dạy tại một số trường trung học phổ thông công lập và trường tư thục ở Hà Nội. Ở khối công lập, sĩ số lớp học khoảng 50 học sinh/lớp; trong khi tại trường tư thục, sĩ số phổ biến ở mức 32-35 học sinh/lớp”.

Cô Phương Anh cho rằng, sĩ số lớp học, đặc biệt trong khoảng 20-30 học sinh, tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho cả giáo viên và học sinh.

Đối với giáo viên, đây là quy mô phù hợp để triển khai dạy học theo định hướng lấy người học làm trung tâm. Giáo viên có thể theo dõi sát quá trình học tập của từng học sinh, kịp thời phát hiện khó khăn và đưa ra hỗ trợ phù hợp. Đồng thời, các hoạt động như thảo luận nhóm, phản biện, học theo dự án hay đánh giá thường xuyên cũng được tổ chức hiệu quả hơn, nhất là trong bối cảnh thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

Thực tế cho thấy, khi sĩ số lớp học đông, giáo viên gặp không ít áp lực trong việc đáp ứng sự đa dạng về năng lực và nhu cầu học tập của học sinh, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai chương trình.

Đối với học sinh, lớp học có sĩ số hợp lý giúp tăng cơ hội tham gia trong mỗi giờ học, từ việc phát biểu, trao đổi ý kiến đến nhận được phản hồi trực tiếp từ giáo viên. Đây là môi trường thuận lợi để phát triển các năng lực như giao tiếp, hợp tác, tư duy phản biện, tự học và giải quyết vấn đề.

Đồng thời, quy mô lớp học hợp lý cũng góp phần xây dựng mối quan hệ tích cực giữa giáo viên và học sinh, qua đó hình thành môi trường học tập cởi mở, giàu tính tương tác và hỗ trợ.

Khi sĩ số lớp học ở mức 45 học sinh, thậm chí cao hơn, giáo viên gặp nhiều khó khăn trong việc cá nhân hóa hoạt động học tập. Với thời lượng mỗi tiết học cố định, số lượng học sinh đông khiến cơ hội để từng em được tương tác, thể hiện quan điểm và nhận phản hồi trực tiếp từ giáo viên giảm đáng kể. Trong thực tế, giáo viên thường phải ưu tiên đảm bảo tiến độ chương trình, thay vì có điều kiện đi sâu vào nhu cầu học tập của từng học sinh.

Về quản lý lớp học, sĩ số đông cũng tạo áp lực lớn. Giáo viên phải phân tán sự chú ý cho nhiều học sinh cùng lúc, khiến việc theo dõi mức độ tham gia, trạng thái tâm lý hay phát hiện những lỗ hổng kiến thức trở nên khó khăn hơn.

“Trong điều kiện lớp học đông, giáo viên vẫn có thể tổ chức dạy học hiệu quả nếu có kinh nghiệm, chuyên môn vững và giải pháp phù hợp. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và tạo áp lực lớn trong công việc. Về lâu dài, sĩ số lớp học cao không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng trải nghiệm học tập của học sinh mà còn gia tăng gánh nặng đối với giáo viên trong cả giảng dạy và quản lý lớp”, cô Phương Anh nhận định.

514600028-23964033519882943-2012129644262371254-n.jpg
Cô Nguyễn Phương Anh. Ảnh: NVCC

Cùng bàn về vấn đề này, cô Nguyễn Thị Ngọc Bích - giáo viên Toán tại Trường Phổ thông Liên cấp Pokrovsky Kvartal (thành phố Moscow, Nga) chia sẻ, phần lớn các trường phổ thông tại Nga hiện nay sĩ số được duy trì ở mức tương đối lý tưởng, trung bình mỗi lớp dao động từ 15 đến tối đa 25 học sinh.

Đây là nền tảng thuận lợi để triển khai các phương pháp giáo dục hiện đại, đặc biệt là những phương pháp đề cao tính tương tác giữa giáo viên và học sinh.

Dưới góc độ một giáo viên Toán, nữ giáo viên cho rằng, sĩ số lớp học hợp lý là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên một môi trường học tập hiệu quả và tích cực.

Đối với giáo viên, sĩ số lớp từ 15-25 học sinh cho phép theo dõi sát năng lực, điểm mạnh cũng như những hạn chế của từng em, từ đó xây dựng bài giảng theo hướng phân hóa phù hợp. Khi đó, giáo viên không chỉ đóng vai trò truyền đạt kiến thức mà còn trở thành người hướng dẫn, đồng hành cùng học sinh trong quá trình khám phá tri thức.

Đối với học sinh, lớp học ít người giúp tăng cơ hội tham gia vào các hoạt động học tập. Mỗi em đều có điều kiện thể hiện ý kiến, trao đổi và tương tác trực tiếp với giáo viên. Qua đó, các kỹ năng như tư duy phản biện, làm việc nhóm và sự tự tin được phát triển trong môi trường học tập cởi mở, tích cực.

Cô Bích cũng bày tỏ: “Tôi rất trân trọng giáo viên tại Việt Nam khi quản lý và duy trì chất lượng giảng dạy trong các lớp học có sĩ số 40-50 học sinh, thậm chí lớn hơn. Điều này đòi hỏi giáo viên phải có nhiều năng lượng và rất kiên trì. Song, sự quá tải về sĩ số khiến việc quản lý lớp học và bao quát toàn bộ học sinh chiếm đáng kể thời gian trong mỗi tiết học, dẫn đến giáo viên dễ rơi vào trạng thái áp lực.

Lớp học đông cũng buộc giáo viên phải ưu tiên các phương pháp truyền thống để đảm bảo tiến độ chương trình. Các hình thức dạy học hiện đại như học theo dự án, học theo trạm hay cá nhân hóa lộ trình học tập gặp nhiều hạn chế”.

img-9376.jpg
Cô Nguyễn Thị Ngọc Bích - giáo viên Toán tại Trường Phổ thông Liên cấp Pokrovsky Kvartal. Ảnh: NVCC

Cần chính sách khuyến khích khối tư thục phát triển

Từ kinh nghiệm làm việc trong môi trường giáo dục quốc tế, cô Nguyễn Thị Bích Ngọc cho rằng, sĩ số lớp học càng hợp lý thì cơ hội nâng cao chất lượng giáo dục càng lớn. Song, đây không phải là yếu tố duy nhất, bởi nếu không đổi mới phương pháp giảng dạy, lớp học ít học sinh cũng khó đạt hiệu quả như kỳ vọng.

Trước bài toán sĩ số lớn, thậm chí quá tải ở nhiều đô thị lớn của Việt Nam hiện nay, để vừa giảm tải sĩ số, vừa phải đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng, có thể tham khảo một số hướng đi.

Trước hết, cần đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ giáo dục như một “trợ giảng”, giúp giáo viên theo dõi tiến độ học tập của học sinh hiệu quả hơn, từ đó có thêm thời gian tập trung vào hoạt động giảng dạy trên lớp.

Về lâu dài, giải pháp cốt lõi vẫn là quy hoạch hệ thống giáo dục một cách đồng bộ, đặc biệt tại các đô thị, bảo đảm quỹ đất và tỷ lệ trường lớp phù hợp với tốc độ gia tăng dân số.

Đặc biệt, việc phân bổ chỉ tiêu giữa khu vực công lập và tư thục cần được tính toán trên cơ sở vừa bảo đảm chất lượng, vừa hướng tới sự phát triển cân bằng, bền vững của toàn hệ thống giáo dục. Đây là vấn đề mang tính vĩ mô, đòi hỏi cách tiếp cận linh hoạt. Tại các đô thị lớn, tỷ lệ khoảng 60% công lập và 40% tư thục là một định hướng lý tưởng để giáo dục phát triển bền vững.

Để đạt được điều này, cần bảo đảm nguyên tắc “bình đẳng trong tiếp cận và đa dạng trong lựa chọn”. Trong đó, khu vực tư thục cần được tạo điều kiện phát triển như một lực lượng bổ trợ hiệu quả, thông qua các chính sách hỗ trợ phù hợp về đất đai, tài chính và cơ chế vận hành. Khi đó, hệ thống tư thục không chỉ góp phần giảm tải áp lực sĩ số cho trường công, mà còn mở rộng lựa chọn, đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người học.

“Sự phát triển hài hòa giữa hai khu vực sẽ góp phần giải quyết bài toán quá tải sĩ số, đồng thời hình thành một hệ sinh thái giáo dục đa dạng, ổn định và phát triển bền vững”, cô Bích nêu quan điểm.

Trong khi đó, cô Nguyễn Phương Anh nhận định, sĩ số lớp học dù không phải là yếu tố duy nhất quyết định chất lượng giáo dục nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với chất lượng dạy và học.

Sĩ số thấp không tự động bảo đảm chất lượng cao, nhưng tạo ra những điều kiện nền tảng quan trọng để học sinh được tham gia sâu hơn vào quá trình học tập, thay vì tiếp nhận kiến thức một cách thụ động. Qua đó, các định hướng đổi mới giáo dục có điều kiện được triển khai thực chất hơn.

Tuy nhiên, theo các nghiên cứu quốc tế, tác động của sĩ số lớp học không mang tính trực tiếp mà thông qua các yếu tố như cách tổ chức dạy học, mức độ tham gia của học sinh và chất lượng tương tác giữa giáo viên với học sinh. Vì vậy, việc nhìn nhận về sĩ số lớp học cần đặt trong tổng thể quá trình sư phạm, thay vì chỉ đánh giá qua kết quả học tập.

Trong bối cảnh Việt Nam, để vừa giảm sĩ số lớp học ở những trường học quá tải, vừa đảm bảo mở rộng quy mô hệ thống, cần tiếp cận theo lộ trình và gắn với đầu tư đồng bộ. Trước hết, cần đánh giá kỹ nhu cầu tại các địa bàn có áp lực lớn về quy mô học sinh, đặc biệt là khu vực đô thị.

Đồng thời, việc giảm sĩ số phải đi kèm với đầu tư cơ sở vật chất, phát triển đội ngũ giáo viên và quy hoạch mạng lưới trường lớp. Nếu không nâng cao năng lực tiếp nhận của hệ thống, mục tiêu giảm sĩ số sẽ khó khả thi.

Bên cạnh đó, có thể tham khảo kinh nghiệm quốc tế về quản trị nhà trường theo hướng linh hoạt hơn, như sử dụng hiệu quả không gian học tập hoặc liên kết giữa các trường trong cùng khu vực để chia sẻ nguồn lực về giáo viên, cơ sở vật chất và chương trình đào tạo.

“Giảm sĩ số lớp học không nên được xem là giải pháp đơn lẻ, mà cần đặt trong tổng thể chiến lược phát triển giáo dục, từ quy hoạch hệ thống, phân bổ nguồn lực đến đào tạo và phát triển đội ngũ giáo viên, nhằm hướng tới nâng cao chất lượng một cách bền vững”, cô Phương Anh nhấn mạnh.

Cô Phương Anh cũng cho rằng, tại các đô thị lớn, việc phát triển hài hòa, cân đối giữa trường công và trường tư là rất cần thiết. Phân bổ chỉ tiêu giữa khu vực công lập và tư thục cần được nhìn nhận như một bài toán phát triển hệ thống lâu dài, thay vì chỉ là giải pháp tình thế nhằm giảm tải cho trường công.

Trước hết, khu vực công lập cần giữ vai trò nòng cốt trong việc bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục cho số đông học sinh, đặc biệt là các nhóm có hoàn cảnh khác nhau. Do đó, chỉ tiêu của hệ thống công lập cần được tính toán trên cơ sở đáp ứng nhu cầu học tập phổ cập, bảo đảm công bằng và duy trì sự ổn định.

Trong khi đó, khu vực tư thục có thể đóng vai trò chia sẻ áp lực về quy mô, đồng thời tạo thêm lựa chọn và góp phần đa dạng hóa mô hình giáo dục. Tuy nhiên, sự phát triển của khu vực này cần nằm trong quy hoạch chung và được giám sát chặt chẽ về chất lượng, nhằm bảo đảm quyền lợi của học sinh.

Việc phân bổ chỉ tiêu giữa hai khu vực cần dựa trên các căn cứ như nhu cầu học tập thực tế theo từng địa bàn, năng lực bảo đảm chất lượng của từng loại hình trường (đội ngũ, cơ sở vật chất, chương trình, quản trị) và mục tiêu phát triển cân bằng của toàn hệ thống, tránh tình trạng lệch pha giữa các khu vực.

Bên cạnh đó, để hệ thống phát triển bền vững, cần có chính sách khuyến khích khu vực tư thục phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, minh bạch và có trách nhiệm xã hội.

“Để xây dựng một hệ thống giáo dục hài hòa, mỗi loại hình trường cần phát huy đúng vai trò, cùng góp phần nâng cao chất lượng và đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập đa dạng của người học”, cô Phương Anh nói.

Hồng Mai