Điều 16, Thông tư 28/2020/TT-BGDĐT về điều lệ trường tiểu học quy định mỗi lớp học có không quá 35 học sinh. Điều 16, Thông tư 32/2020/TT-BGDĐT về điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học quy định sĩ số học sinh phổ thông không quá 45 học sinh/lớp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ở nhiều trường công lập tại Hà Nội vẫn diễn ra tình trạng quá tải sĩ số, có nơi lên tới hơn 50 học sinh/lớp, gây không ít áp lực cho hoạt động dạy học.
Những năm gần đây, Hà Nội đã đẩy mạnh số hóa tuyển sinh, đồng thời đầu tư xây dựng thêm nhiều trường học và cải thiện cơ sở vật chất nhằm giảm tải áp lực. Song, theo một số chuyên gia, để đảm bảo chất lượng giáo dục khi mở rộng quy mô trường lớp, điều kiện tiên quyết vẫn là từng bước giảm sĩ số, không chỉ về mức quy định mà cần hướng tới giảm xuống khoảng 30 học sinh/lớp.
Muốn nâng cao chất lượng dạy và học, phải bắt đầu từ giảm sĩ số lớp học
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An - Đại biểu Quốc hội khóa XIII chia sẻ, mặc dù đã có các thông tư và quy định cụ thể về tiêu chuẩn trường lớp nhưng trên thực tế, tại nhiều trường học công lập, sĩ số lớp vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu.
“Quá tải sĩ số là một rào cản lớn trong việc triển khai các mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục đặc biệt trong bối cảnh Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đặt mục tiêu đạt trình độ tiên tiến trong khu vực châu Á. Một lớp học quá đông học sinh chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học, bởi giáo viên khó có thể theo sát và hỗ trợ từng học sinh một cách hiệu quả. Việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực và phát triển năng lực như thảo luận nhóm, học tập dự án, cá nhân hóa học tập cũng bị hạn chế.
Thời gian qua, thành phố Hà Nội đã có những bước đi tích cực khi đặt giáo dục ở vị trí ưu tiên, tập trung đầu tư cơ sở vật chất, xây thêm trường học và mở rộng quy mô để khắc phục thực trạng trên. Tuy nhiên, do tốc độ gia tăng dân số cơ học nhanh, những nỗ lực này vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu thực tế. Vì vậy, bên cạnh một số trường đã đạt chuẩn, tình trạng lớp học đông vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An nhìn nhận.
Cũng theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An: “Sau khi triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, thành phố Hà Nội đã tận dụng quỹ đất và cơ sở vật chất dôi dư để xây dựng thêm trường học. Trong năm học tới sẽ có thêm 6 trường trung học phổ thông đi vào hoạt động, góp phần giảm áp lực sĩ số.
Song, việc mở rộng quy mô trường lớp sẽ thực sự phát huy hiệu quả khi đi kèm với điều kiện tiên quyết là giảm sĩ số, không chỉ về mức quy định mà cần từng bước hướng tới khoảng 30 học sinh mỗi lớp để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, từ đó cải thiện chất lượng nguồn nhân lực. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này trong thời gian ngắn là tương đối khó, Hà Nội vẫn cần thêm lộ trình phù hợp và kế hoạch quy hoạch tổng thể, đồng bộ nhiều yếu tố”.
Cùng bàn về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thành Nam - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) đánh giá: “Sĩ số lớp học vượt chuẩn khiến giáo viên khó áp dụng hiệu quả các phương pháp dạy học hiện đại, đồng thời hạn chế khả năng cá nhân hóa việc học. Khi lớp học quá đông, nguy cơ một số học sinh bị “bỏ lại phía sau” là điều khó tránh khỏi, bởi giáo viên khó có điều kiện theo sát và hỗ trợ từng em.
Bên cạnh đó, lớp học đông khiến việc quản lý trở nên khó khăn hơn, học sinh dễ bị sao nhãng, thậm chí tham gia các hoạt động ngoài tầm kiểm soát của giáo viên, từ đó tác động tiêu cực đến kết quả học tập chung.
Vì vậy, nếu chỉ chú trọng mở rộng quy mô trường lớp nhằm đáp ứng nhu cầu trước mắt mà không kiểm soát sĩ số phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục, thì chất lượng dạy và học khó có thể được nâng cao một cách lâu dài và bền vững.
Trước mắt, cần phải đảm bảo sĩ số theo các thông tư, quy định đã ban hành về tiêu chuẩn trường lớp là 35 học sinh/lớp đối với cấp tiểu học, 45 học sinh/lớp đối với cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông. Về lâu dài, cần hướng tới việc giảm sĩ số xuống khoảng 30 học sinh/lớp, phù hợp với xu hướng giáo dục cá nhân hóa”.
Trong khi đó, theo Tiến sĩ Lê Đông Phương - nguyên cán bộ nghiên cứu Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo) nhìn nhận: “Trong điều kiện đặc thù của các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội, sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng khiến hiện tượng quá tải lớp học trở thành vấn đề kéo dài, các địa phương thường buộc phải chấp nhận giải pháp tình thế là cho phép sĩ số lớp vượt quy định.
Đây là sự đánh đổi giữa đảm bảo chỗ học và duy trì chất lượng giáo dục. Bởi nếu cứng nhắc áp dụng đúng định mức sĩ số, nhiều học sinh có thể mất cơ hội được học tại các trường công lập. Do đó, trong ngắn hạn, việc chấp nhận sĩ số cao là để đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục cho số đông.
Tuy nhiên, về lâu dài, có thể thấy sĩ số lý tưởng nhất để nâng cao chất lượng dạy và học một cách thực chất là khoảng 30 học sinh trong một lớp”.
Cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
Không chỉ dừng lại ở bài toán sĩ số, các chuyên gia cho rằng việc nâng cao chất lượng giáo dục khi mở rộng quy mô trường lớp đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện hơn. Theo đó, giảm sĩ số là điều kiện tiên quyết, và để tạo ra chuyển biến thực chất, cần đồng thời đảm bảo sự phát triển đồng bộ về đội ngũ giáo viên, trang thiết bị dạy học cũng như hạ tầng công nghệ.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thành Nam, việc phát triển trường lớp cần được thực hiện đồng bộ với các yếu tố khác như nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giáo viên, thiết bị dạy học và hạ tầng công nghệ.
Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) phân tích: “Trong bối cảnh hiện nay, quan niệm về “lớp học” cần được mở rộng, không chỉ đơn thuần là bó hẹp trong “bốn bức tường” mà bao gồm cả không gian số và môi trường học tập đa dạng.
Việc giảm sĩ số cũng là để thực hiện hiệu quả các phương pháp học tập hiện đại, điều này cần đi đôi với nâng cao năng lực sư phạm số của giáo viên và tận dụng công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, để hỗ trợ dạy học và đánh giá theo hướng cá nhân hóa. Khi đó, vai trò của giáo viên sẽ chuyển dần từ người truyền đạt kiến thức sang người thiết kế, hướng dẫn và điều phối quá trình học tập của học sinh”.
Ngoài ra, thầy Nam cho rằng, để giảm tải áp lực cho hệ thống giáo dục công lập, cần thực hiện thu hẹp khoảng cách về chất lượng giáo dục, cũng như cơ chế hỗ trợ về quỹ đất và chính sách về học phí nhằm đảm bảo công bằng giữa khối tư thục và công lập, qua đó mở rộng cơ hội học tập cho học sinh.
Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An cho rằng, khả năng mở rộng cơ sở vật chất và tuyển dụng giáo viên lại diễn ra chậm hơn so với tốc độ tăng của dân số học đường, vì vậy nội dung liên quan đến đội ngũ giáo viên cần được tích cực quan tâm hơn nữa.
Ngoài ra, thành phố cần rà soát, đánh giá toàn diện chất lượng giáo viên từ nội thành đến ngoại thành bằng cách xây dựng tiêu chí đánh giá thực chất, từ đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hoặc tái đào tạo phù hợp. Mục tiêu đặt ra là đến giai đoạn 2026–2027, chất lượng giáo viên giữa các khu vực không còn chênh lệch đáng kể.
Mặt khác, dự kiến năm học 2026–2027, Hà Nội có khoảng 147.000 học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở nhưng chỉ khoảng hơn 81.000 em có cơ hội được học tại trường trung học phổ thông công lập. [1]
Liên quan đến bài toán phân luồng học sinh trong bối cảnh hiện nay, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An, hệ thống trường tư thục đóng vai trò quan trọng trong việc chia sẻ áp lực với trường công lập và thúc đẩy xã hội hóa giáo dục. Do đó, cần đảm bảo phân bổ chỉ tiêu hợp lý giữa trường công và trường tư (60% công lập, 40% tư thục).
“Mặc dù sở hữu cơ sở vật chất hiện đại và dịch vụ giáo dục tốt hơn, nhưng số lượng phụ huynh lựa chọn cho con theo học tại các trường tư thục còn rất hạn chế, bởi học phí tại các trường này thường khá cao, không phải gia đình nào cũng đủ điều kiện để tiếp cận mô hình giáo dục này.
Cùng với đó, hệ thống trường tư thục phải tự đảm bảo toàn bộ chi phí đầu tư và vận hành, nên bên cạnh việc các trường tư thục tự nâng cao chất lượng và điều chỉnh mức học phí hợp lý, thành phố cũng cần có những chính sách hỗ trợ cho khối này để mở rộng cơ hội học tập của học sinh”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An nêu quan điểm.
Còn theo Tiến sĩ Lê Đông Phương, quy trình giải phóng mặt bằng và đầu tư xây dựng trường công lập diễn ra chậm, do đặc thù thủ tục phức tạp và khó khăn trong bố trí quỹ đất. Sự chậm trễ này khiến tốc độ mở rộng trường lớp không theo kịp tốc độ tăng học sinh, buộc các trường công lập phải hoạt động vượt công suất, dẫn tới quá tải kéo dài.
Tiến sĩ Lê Đông Phương lý giải: “Trong điều kiện mật độ dân cư tại khu vực nội thành rất cao, việc mở rộng quỹ đất cho trường công lập trở nên đặc biệt khó khăn. Một hướng đi được đặt ra là tận dụng các trụ sở dôi dư sau khi sắp xếp, tinh gọn bộ máy để chuyển đổi công năng sang giáo dục, tuy nhiên cũng cần đánh giá kỹ về diện tích, quy hoạch và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn trường học.
Bên cạnh cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính và đội ngũ giáo viên cũng là những thách thức lớn. Việc xây dựng trường mới, trang bị thiết bị dạy học đòi hỏi chi phí đáng kể, trong khi bài toán tuyển dụng giáo viên lại vướng ở cơ chế biên chế khi chủ trương chung là tinh giản nhân sự khu vực công”.
Tiến sĩ Lê Đông Phương nhấn mạnh, khi áp lực tuyển sinh ở hệ thống giáo dục công lập tăng cao, cần tăng cường thêm vai trò của các trường tư thục. Do đó, nên đa dạng hóa các loại hình trường lớp, phát triển hài hòa và thúc đẩy mô hình hợp tác công - tư trong xây dựng và vận hành trường học. Tuy nhiên, hiện nay những chính sách, cơ chế hỗ trợ cho hệ thống giáo dục tư thục vẫn chưa được triển khai rõ ràng nên đôi khi khiến hệ thống này còn thiệt thòi.
Tài liệu tham khảo:
[1] https://giaoduc.net.vn/ha-noi-123-truong-thpt-cong-lap-duoc-giao-81048-chi-tieu-vao-lop-10-nam-hoc-2026-2027-post259012.gd