Hình thành đại học tinh hoa: Bài học kinh nghiệm nhìn từ Úc, Canada

17/08/2026 08:24
Tường San
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Theo chuyên gia, việc một số đại học đa ngành, đa lĩnh vực của Việt Nam có định hướng trở thành đại học tinh hoa, với mục tiêu vươn tầm khu vực là hoàn toàn đúng đắn.

Tại Hội thảo “Phát triển mô hình đại học tinh hoa, đại học xuất sắc tại Việt Nam trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, Chiến lược phát triển giáo dục đại học và Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học”, Bộ Giáo dục và Đào tạo thông tin, dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục đại học định hướng phân tầng hệ thống giáo dục đại học, gắn với chất lượng, hiệu quả đầu tư, đổi mới mô hình và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.

Theo đó, dự thảo định hướng hình thành 3-5 cơ sở giáo dục đại học tinh hoa và khoảng 25-30 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm chiến lược phục vụ theo lĩnh vực, vùng, ngành, địa phương, giữ vai trò dẫn dắt.

Yêu cầu đặt ra với nhóm này là phải đáp ứng nghiên cứu đỉnh cao, có khả năng cạnh tranh quốc tế, giữ vai trò dẫn dắt, cung cấp nguồn nhân lực, sản phẩm khoa học, công nghệ và tạo tác động đối với nền kinh tế. Đây cũng được định hướng là nơi hội tụ, thu hút nhân tài, nhà khoa học xuất sắc trong nước và quốc tế.

Nhằm có thêm góc nhìn từ kinh nghiệm thực tiễn quốc tế, đặc biệt tại những quốc gia phát triển về giáo dục, phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia là người Việt Nam hiện đang công tác tại các cơ sở giáo dục đại học uy tín trên thế giới.

Hai sứ mạng nòng cốt của một đại học tinh hoa

Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Lương Văn Hy - Giáo sư Danh dự Đại học Toronto (Canada), nguyên Chủ tịch Hiệp hội Nghiên cứu Châu Á (Association for Asian Studies) cho biết, đại học tinh hoa thường phải hoàn thành xuất sắc hai sứ mạng chính của một đại học lý tưởng.

Thứ nhất, thông qua nghiên cứu, khám phá những kiến thức mới, cũng như tìm ra các giải pháp mới cho phát triển và cuộc sống;

Thứ hai, trong đào tạo, truyền đạt kiến thức và xây dựng những kỹ năng quan trọng cho sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh thông qua giảng dạy, gồm cả giảng dạy qua nghiên cứu, nhất là ở bậc sau đại học.

Để hoàn thành xuất sắc hai sứ mạng trên, giảng viên, nhà nghiên cứu và người học của những cơ sở đó phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc đạo đức trong môi trường học thuật, trong đó có nguyên tắc trung thực trong nghiên cứu và trình bày kết quả nghiên cứu, công bằng với sinh viên và đồng nghiệp; không gây hại cho cộng đồng và xã hội. Bởi, không một nền học thuật nào có thể phát triển tốt nếu dung túng cho sự thiếu trung thực và không có chế tài đủ mạnh đối với những hành vi thiếu trung thực.

putih-dan-abu-abu-minimalis-konten-instagram-kutipan-animasi-1.png

Đặc biệt, thầy Hy thông tin, một số đại học hàng đầu thế giới tạo còn điều kiện rất tốt cho nghiên cứu bằng cách quy định số giờ lên lớp của hầu hết giảng viên cơ hữu không quá 150 tiết trong một năm học. Tại Đại học Toronto, số giờ lên lớp không quá 96 tiết một năm đối với hầu hết giảng viên cơ hữu trong khối ngành khoa học xã hội. Với những lớp tương đối đông sinh viên, giảng viên còn có trợ giảng, phụ trách chính việc chấm bài tập và bài thi, cũng như những giờ giảng thêm hoặc trao đổi với sinh viên. Còn một số giảng viên không thuộc ngạch nghiên cứu sẽ phải dạy học nhiều hơn.

Trong đào tạo bậc đại học, nếu một số lớp nhập môn năm thứ nhất và năm thứ hai có thể có đến vài trăm sinh viên thì một số đại học như Đại học Harvard (Mỹ) hay Đại học Toronto (Canada) cũng có những lớp năm thứ nhất (first-year seminars) với số sinh viên không quá 25 và do giáo sư hoặc phó giáo sư giảng dạy. Những lớp này có cả trong khoa học xã hội, các ngành nhân văn, khoa học tự nhiên và các ngành công nghệ. Mục đích là tạo độ tương tác học thuật cao giữa giảng viên và sinh viên, giữa các sinh viên với nhau; đồng thời xây dựng ngay từ năm thứ nhất khả năng tư duy nhanh, tự học và luôn học hỏi, thuyết trình và tranh biện, làm việc nhóm, viết bài chuyên môn. Dù công nghệ có thể thay đổi nhanh, những kỹ năng này vẫn luôn đứng vị trí quan trọng.

Không những vậy, theo thầy Hy, đại học tinh hoa cũng phải có cơ sở vật chất rất tốt để phục vụ nghiên cứu và giảng dạy, đồng thời phải trả lương cho giảng viên ở mức giúp họ yên tâm nghiên cứu, giảng dạy và thu hút được người xuất sắc. Khi có đội ngũ giảng viên rất mạnh, họ có khả năng cạnh tranh cao để nhận được những khoản tài trợ nghiên cứu lớn từ bên ngoài và thông qua giảng dạy hiệu quả, thu hút sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh giỏi.

Do đó, đại học tinh hoa phải có nguồn lực tài chính tốt, ngân sách chi thường xuyên rất mạnh. Những đại học tinh hoa không thể dựa vào học phí là nguồn thu chính để hoàn thành sứ mạng mà cần được Nhà nước tài trợ mạnh cho cả chi thường xuyên; hoặc cần có quỹ trường tồn (endowment) lớn. Ví dụ như Đại học Harvard ở Mỹ, có hơn 50 tỷ USD trong quỹ trường tồn. Một nguồn tài chính nữa tại nhiều đại học tinh hoa ở nhiều nơi trên thế giới là trường được hưởng một phần tiền bản quyền từ những nghiên cứu ứng dụng được tiến hành dựa trên cơ sở vật chất của đại học.

Mặt khác, theo thầy Hy, các đại học tinh hoa hàng đầu thế giới đều là những đại học đa ngành, đa lĩnh vực.

Trên thực tế, các đại học tinh hoa trong khối những nước nói tiếng Anh từ lâu đã là những đại học đa khối ngành, với quy mô đào tạo và nghiên cứu cực kỳ rộng, đồng thời luôn tạo điều kiện thuận lợi cho sự kết hợp liên ngành và liên khối ngành trong nghiên cứu và giảng dạy, gồm cả những khám phá rất quan trọng trong học thuật có tính liên ngành.

Chính vì vậy, việc một số đại học đa ngành, đa lĩnh vực của Việt Nam hướng trở thành đại học tinh hoa, với mục tiêu vươn tầm khu vực là hoàn toàn đúng đắn.

Đại học tinh hoa phải có khả năng đi trước, kiến tạo tri thức mới và dẫn dắt sự phát triển

Trong khi đó, theo Tiến sĩ Nguyễn Phạm Nhất Thiên Minh - giảng viên ngành Khoa học Robot tại Đại học Queensland (Úc), trên thế giới hiện không có một định nghĩa hay bộ tiêu chí thống nhất về “đại học tinh hoa”.

Tại Úc - quốc gia có nền giáo dục phát triển và đóng góp hàng chục tỉ đô la thu nhập mỗi năm cho nền kinh tế, có nhóm 8 (Go8) có thể được xem là mô hình đại học tinh hoa đáng tham khảo, giữ vai trò dẫn dắt trong các lĩnh vực STEM, đặc biệt là y tế và sinh học. Tuy nhiên, thầy Minh lưu ý, Go8 là liên minh gồm tám đại học nghiên cứu uy tín, không phải danh hiệu do Chính phủ Úc xét cấp.

konten-instagram-berita-umum-profesional-terang-putih-merah-abu-abu.png

Theo thầy Minh, một số thông số đáng chú ý của Go8 gồm:

Thứ nhất, về quy mô đào tạo, Go8 quy tụ 8 trường đại học nghiên cứu của Úc, hàng năm đều đảm nhận đào tạo một tỷ lệ lớn sinh viên đại học, học viên sau đại học và nghiên cứu sinh của cả nước; chiếm khoảng hơn 25% tổng số sinh viên đại học, hơn một phần ba số học viên sau đại học và gần một nửa số nghiên cứu sinh và cấp khoảng 50% số bằng tiến sĩ ở quốc gia này. Các trường thuộc nhóm cũng đào tạo hơn một nửa số bác sĩ, nha sĩ và bác sĩ thú y, cùng khoảng 54% sinh viên tốt nghiệp ngành khoa học và khoảng 44% sinh viên tốt nghiệp ngành kỹ thuật của Úc.

Thứ hai, về năng lực nghiên cứu, đây được xem là thế mạnh nổi bật nhất của Go8. Nhóm này thu hút gần 70% nguồn tài trợ nghiên cứu cạnh tranh cấp quốc gia và dành khoảng 10 tỷ đô la Úc mỗi năm cho hoạt động nghiên cứu. Trong đó, hơn 3,3 tỷ đô la Úc được đầu tư cho các lĩnh vực y sinh, lâm sàng và dịch vụ y tế.

Đáng chú ý, khoảng 99% hoạt động nghiên cứu của Go8 được đánh giá đạt hoặc vượt chuẩn thế giới. Hoạt động nghiên cứu của nhóm tạo ra khoảng 24,5 tỷ đô la Úc giá trị mỗi năm; tính trung bình, mỗi 1 đô la Úc thu nhập từ nghiên cứu của nhóm này đã mang lại gần 10 đô la Úc lợi ích cho cộng đồng.

Thứ ba, theo báo cáo năm 2018, Go8 đã đóng góp khoảng 66,4 tỷ đô la Úc mỗi năm cho nền kinh tế Australia và trực tiếp hỗ trợ hơn 60.000 việc làm. Sinh viên quốc tế của Go8 đóng góp khoảng 17,98 tỷ Úc và hỗ trợ khoảng 73.030 việc làm.

Cũng theo Tiến sĩ Minh, yếu tố quyết định đối với một đại học tinh hoa nằm ở năng lực dẫn dắt và mức độ gắn kết sâu sắc của trường với sự phát triển của một hoặc một số lĩnh vực chiến lược.

Đơn cử, qua quan sát ngành khai thác khoáng sản tại Úc, Tiến sĩ Minh nhận thấy, nhiều chuyên gia và lãnh đạo cấp cao của nhiều doanh nghiệp lớn tại Úc từng là sinh viên hoặc học viên của Đại học Queensland. Sau khi tốt nghiệp, họ tiếp tục hợp tác với trường trong đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Mối liên kết tương tự cũng tồn tại trong các lĩnh vực y sinh và y tế. Hạt nhân của hệ sinh thái này là những nhà khoa học hàng đầu, không chỉ thực hiện nghiên cứu xuất sắc mà còn xây dựng mạng lưới hợp tác, đào tạo thế hệ kế cận và góp phần định hướng sự phát triển của ngành trong nhiều thập kỷ.

Đặc biệt, theo thầy Minh, nền tảng đầu tiên để xây dựng đại học tinh hoa phải là con người tinh hoa. Muốn một trường đại học có khả năng dẫn dắt một lĩnh vực, cần có những nhà khoa học thực sự đang ở tuyến đầu của lĩnh vực đó làm hạt nhân chuyên môn và được trao quyền xây dựng đội ngũ. Việt Nam cần nghiêm túc xác định nguồn lực cần thiết để thu hút một chuyên gia hàng đầu từ nước ngoài về nước gây dựng lĩnh vực mới. Bên cạnh đó, cần cho phép các nhà khoa học chấp nhận rủi ro và theo đuổi những hướng nghiên cứu lớn, chưa từng được thử nghiệm.

Đồng thời, trong bối cảnh khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh chóng, các tiêu chí đánh giá cũng cần được cập nhật. Những chỉ số như số lượng công bố khoa học có thể không còn phản ánh đầy đủ năng lực của một trường. Do đó, cần xem xét thêm khả năng tạo ra công nghệ nền tảng, chia sẻ dữ liệu và hạ tầng nghiên cứu, chuyển giao tri thức, đào tạo nhân lực và giải quyết những vấn đề lớn của xã hội.

Tuy nhiên, tiêu chí cốt lõi là không thay đổi: một đại học tinh hoa phải có khả năng đi trước, kiến tạo tri thức mới và dẫn dắt sự phát triển của những lĩnh vực mà mình lựa chọn. Điều cần “xê dịch” là cách đo lường năng lực dẫn dắt, chứ không phải bản chất của năng lực này.

"Việt Nam nên xây dựng mô hình đại học tinh hoa mang đặc trưng riêng, bởi nguồn lực, thể chế và nhu cầu phát triển của Việt Nam có những khác biệt nhất định", Tiến sĩ Minh nhấn mạnh.

Việt Nam cần xác định đúng vai trò của đại học tinh hoa

Để mô hình đại học tinh hoa thực sự được triển khai hiệu quả tại Việt Nam, Giáo sư Lương Văn Hy đã đưa ra một số đề xuất.

Theo Giáo sư Hy, trong bối cảnh phát triển công nghệ như hiện nay, Việt Nam cần quan tâm sâu hơn đến mối quan hệ hai chiều giữa công nghệ mới và con người (human-technology interaction) - một hướng nghiên cứu đang phát triển mạnh trên thế giới, có sự giao thoa giữa công nghệ, khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.

Bên cạnh đó, cũng cần chú trọng nghiên cứu đến nhiều vấn đề thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, như xu hướng tương tác giữa toàn cầu hóa, các quan hệ xuyên quốc gia với văn hóa, xã hội và kinh tế ở địa phương.

0a1a8849alicexue-photography2025.jpg
Ảnh minh họa. Nguồn: utoronto.ca

Ngoài ra, cần tham khảo mô hình đại học tinh hoa ở Mỹ và Canada, khi sau năm thứ nhất, sinh viên có thể chủ động lựa chọn nhiều học phần ngoài ngành chính, thậm chí theo học ngành chính thứ hai hoặc một ngành phụ (minor) thuộc một khối ngành khác. Cách đào tạo này giúp tận dụng tốt lợi thế liên ngành của các đại học tinh hoa. Qua đó trang bị cho sinh viên nền tảng kiến thức rộng hơn, tăng khả năng thích ứng với những thay đổi của cuộc sống và thị trường lao động; có khả năng đóng góp hiệu quả hơn vào việc giải quyết các vấn đề phát triển, đời sống cũng như thúc đẩy khoa học và học thuật.

Trong khi đó, Tiến sĩ Nguyễn Phạm Nhất Thiên Minh lại chỉ ra một số bài học kinh nghiệm từ thực tiễn quốc tế trong quá trình xây dựng mô hình đại học tinh hoa.

Cụ thể, một trong những sai lầm phổ biến như xem đại học như một đơn vị tư vấn hoặc nhà thầu, có nhiệm vụ trực tiếp giải quyết một bài toán cụ thể cho doanh nghiệp hoặc tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh cần được lưu tâm. Tại nhiều quốc gia phát triển, doanh nghiệp cũng thường có xu hướng tìm đến các trường đại học để giải quyết những bài toán kỹ thuật khi gặp khó khăn. Tuy nhiên, sứ mạng cốt lõi của đại học vẫn là đào tạo con người, khám phá những ý tưởng mới và tạo ra tri thức mới.

Do đó, cách tiếp cận phù hợp hơn là doanh nghiệp tìm kiếm, tiếp nhận các công nghệ và ý tưởng mới từ đại học, sau đó đầu tư sâu để phát triển thành sản phẩm thông qua các mô hình cấp phép công nghệ (licensing), công ty khởi nghiệp hoặc công ty khởi nguồn (spin-off). Về phía đại học, cần xây dựng cơ chế chuyển giao công nghệ và hỗ trợ khởi nghiệp để thúc đẩy quá trình này.

Nếu việc đánh giá nghiên cứu chủ yếu dựa trên số lượng sản phẩm được bàn giao trong ngắn hạn, các nhà khoa học sẽ có xu hướng lựa chọn những đề tài an toàn, dễ dự báo và gần với thị trường. Điều này có thể làm suy giảm khả năng thực hiện nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu có tính rủi ro cao và những ý tưởng đột phá - vốn là những đóng góp quan trọng cho sự phát triển dài hạn của một đại học tinh hoa.

Đồng thời, Việt Nam cũng cần tránh chạy theo thứ hạng và các chỉ số định lượng như số lượng bài báo mà chưa đánh giá đầy đủ tác động thực chất của nghiên cứu.

Bên cạnh đó, cần tránh tình trạng đầu tư dàn trải cho quá nhiều trường và nhiều lĩnh vực, khiến không cơ sở nào có đủ nguồn lực để đạt trình độ quốc tế; chỉ cấp kinh phí theo các dự án ngắn hạn trong khi việc hình thành một lĩnh vực nghiên cứu mạnh có thể cần hàng chục năm; tránh áp dụng quá nhiều thủ tục hành chính khiến các nhà khoa học thiếu quyền tự chủ trong tuyển dụng nhân sự, sử dụng kinh phí và chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu.

Tóm lại, Việt Nam cần xác định đúng vai trò của đại học tinh hoa: đào tạo nhân tài, mở rộng biên giới tri thức và tạo nền tảng để xã hội, doanh nghiệp tiếp tục chuyển hóa tri thức thành sản phẩm và giá trị kinh tế. Nhà nước cần đầu tư tập trung, dài hạn, trao quyền tự chủ thực chất cho các trường; đồng thời đánh giá dựa trên tác động khoa học, năng lực đào tạo con người và đóng góp lâu dài cho quốc gia, thay vì chỉ dựa vào những sản phẩm ngắn hạn hoặc các chỉ số bề nổi.

Ngoài ra, Tiến sĩ Minh cũng đưa ra một số đề xuất liên quan đến chính tên gọi “đại học tinh hoa”.

Theo đó, trong tiếng Anh, từ “elite” đôi khi mang hàm ý tách biệt hoặc xa rời số đông, như trong cụm “the elite” - “giới tinh hoa”. Cách gọi này có thể tạo ra cách hiểu rằng đại học tinh hoa chỉ phục vụ một nhóm nhỏ, trong khi sứ mạng của những trường này còn là dẫn dắt và nâng cao năng lực của toàn hệ thống.

Tuy nhiên, nếu danh hiệu đại học tinh hoa được chính thức hình thành, Việt Nam cũng cần quan tâm đến yếu tố phân bố địa lý; tránh tập trung toàn bộ các trường và nguồn lực tinh hoa tại một địa phương, bởi điều này có thể làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa các vùng. Các "đại học đầu tàu" nên gắn với thế mạnh và nhu cầu của từng vùng, từ đó hình thành những trung tâm đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo có khả năng thúc đẩy hệ sinh thái kinh tế địa phương.

Việc lựa chọn vẫn phải dựa trên năng lực thực chất, đồng thời có chính sách đầu tư dài hạn để những cơ sở có tiềm năng tại các vùng khác nhau có điều kiện phát triển thành những cực xuất sắc.

Tường San