Thu hút nhân tài bằng hệ sinh thái nghiên cứu hoàn chỉnh, khắc phục "điểm đứt gãy" về chuyển giao

11/07/2026 06:24
Hồng Linh
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Để thu hút và giữ chân nhân tài, điều quan trọng là xây dựng một hệ sinh thái nghiên cứu đủ hấp dẫn, tạo điều kiện để các nhà khoa học phát huy năng lực và gắn bó lâu dài.

Phát biểu của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn tại Chương trình "Homecoming for Vietnamese Scientists" với chủ đề "Từ chính sách thu hút nhân tài đến nâng cao năng lực khoa học quốc gia" nhận được sự đồng tình của nhiều cơ sở giáo dục.

Bộ trưởng cho rằng, vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ là tìm cách để các nhà khoa học trở về, mà quan trọng hơn là xây dựng được một hệ sinh thái đủ hấp dẫn để nhân tài có thể gắn bó lâu dài và phát huy tối đa năng lực. [1]

Khắc phục "điểm đứt gãy" ở khâu chuyển giao và ứng dụng kết quả nghiên cứu

Bàn luận về vấn đề này, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho biết, thu hút các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài luôn là một trong những định hướng quan trọng của nhà trường. Hiện nay, phần lớn giảng viên của Trường Đại học Công nghệ là tiến sĩ được đào tạo tại nước ngoài, tạo nên sự đa dạng về nền tảng học thuật, văn hóa nghiên cứu và cách tiếp cận tri thức từ các trường đại học hàng đầu thế giới.

Với việc xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu nhằm tạo môi trường để nhân tài phát huy năng lực và cống hiến lâu dài tại Việt Nam. Thầy Trình chỉ ra, trong hệ sinh thái này, mỗi chủ thể, từ cơ sở nghiên cứu, đội ngũ nghiên cứu, đến doanh nghiệp hay quỹ tài trợ đều là những mắt xích quan trọng. Khi tất cả cùng được hưởng lợi từ kết quả nghiên cứu và cùng có động lực đóng góp, hệ sinh thái mới vận hành hiệu quả và tạo ra những sản phẩm thực sự đi vào cuộc sống

Cụ thể, các trường đại học và viện nghiên cứu phải thu hút được nhiều nguồn lực cho nghiên cứu, từ các quỹ khoa học, doanh nghiệp đến các chương trình, dự án của Nhà nước. Cùng với đó, cần tháo gỡ rào cản về cách quản trị hoạt động nghiên cứu, giảm bớt thủ tục hành chính. Quy trình quản lý quá chặt chẽ đôi khi làm giảm tính linh hoạt, hạn chế sự sáng tạo và khiến các nhà khoa học chưa thực sự được tự do theo đuổi các ý tưởng nghiên cứu mới.

Hơn nữa, "điểm đứt gãy" lớn nhất hiện nay nằm ở khâu chuyển giao và ứng dụng kết quả nghiên cứu. Nếu thiếu sự tham gia của doanh nghiệp, nhiều công trình sẽ khó đi đến giai đoạn thương mại hóa. Vì vậy, xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu cần đẩy mạnh hơn nữa hợp tác thực chất với doanh nghiệp.

461345500-989482862979193-4828769442502201601-n.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: Website nhà trường.

Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) là đơn vị chiêu mộ được nhiều nhân tài về làm việc thông qua chương trình VNU350 (Chương trình thu hút, giữ chân và phát triển 350 nhà khoa học trẻ xuất sắc, nhà khoa học đầu ngành công tác tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh).

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc - Phó Hiệu trưởng nhà trường thông tin, nhà trường đặc biệt chú ý đến việc xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu khoa học. Đơn vị ưu tiên đầu tư cho các nhóm nghiên cứu mạnh thông qua việc hỗ trợ không gian làm việc; cơ hội tiếp cận, triển khai nhiều đề tài nghiên cứu; tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu nhất là các nghiên cứu sinh được tham gia nhóm nghiên cứu với vai trò nghiên cứu viên và hưởng chế độ hỗ trợ, trả lương.

Một định hướng quan trọng khác là gắn nghiên cứu với kết quả đầu ra. Theo đó, khi đăng ký thực hiện đề tài, các nhóm nghiên cứu đều phải xác định rõ sản phẩm cuối cùng. Đối với các đề tài ứng dụng, sản phẩm có thể là công nghệ, quy trình hoặc giải pháp phục vụ thực tiễn; còn với nghiên cứu cơ bản, mục tiêu vẫn phải tạo ra những kết quả khoa học có giá trị. Cách làm này giúp định hướng các nhà khoa học ngay từ khi xây dựng đề tài, hướng tới việc hiện thực hóa kết quả nghiên cứu thay vì chỉ dừng lại ở công bố khoa học.

Bên cạnh đó, với vấn đề xây dựng và số hóa mạng lưới trí thức Việt Nam toàn cầu để chủ động kết nối và hợp tác, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc nhận định: "Đây là hướng đi cần thiết để nâng cao hiệu quả kết nối và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao. Nếu có một cơ sở dữ liệu tập trung về các nhà khoa học Việt Nam trên toàn thế giới, đặc biệt ở những lĩnh vực đất nước đang cần hoặc sẽ ưu tiên phát triển trong tương lai, trường đại học và doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong việc tìm kiếm, kết nối và mời chuyên gia phù hợp tham gia các chương trình nghiên cứu, đào tạo hoặc chuyển giao công nghệ.

Tại Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), công tác xây dựng mạng lưới hợp tác quốc tế và cơ sở dữ liệu chuyên gia đang được triển khai. Phòng Đối ngoại của nhà trường đã xây dựng hệ thống dữ liệu về các đối tác và chuyên gia, đồng thời nhà trường đang số hóa toàn bộ hoạt động quản trị, trong đó có hợp tác quốc tế.

Việc này giúp quá trình tra cứu, kết nối và khai thác thông tin diễn ra nhanh chóng, thuận tiện hơn. Cơ sở dữ liệu chủ yếu tập hợp hồ sơ khoa học của các chuyên gia, bao gồm lĩnh vực chuyên môn, quá trình đào tạo, thành tích nghiên cứu, công bố quốc tế, hoạt động chuyển giao công nghệ cùng những kinh nghiệm chuyên môn, quản lý đã tích lũy".

sdi9yuyt29sjkwrno73onshv.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Ảnh: Website nhà trường.

Thu hút đúng người, bố trí đúng vị trí

Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn cũng nhấn mạnh việc gắn kết việc thu hút chuyên gia với các chiến lược phát triển quốc gia. Dưới góc nhìn của Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình, thu hút và phát huy đội ngũ nhà khoa học không nên chỉ được nhìn nhận là giải pháp nâng cao năng lực hay vị thế của từng cơ sở giáo dục đại học. Mục tiêu cuối cùng là hình thành văn hóa nghiên cứu và đổi mới sáng tạo lành mạnh trong các trường đại học. Văn hóa đó sẽ thúc đẩy sự gắn kết giữa đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao, qua đó nâng cao năng lực của hệ sinh thái nghiên cứu khoa học quốc gia.

Ngoài ra, để tránh tâm lý e ngại tại các cơ sở giáo dục khi xuất hiện những người có năng lực vượt trội hơn, thầy Trình phân tích, nếu không có cơ chế phù hợp, một bộ phận cán bộ có thể lo lắng về cơ hội phát triển hoặc sự ổn định của vị trí việc làm.

Vì vậy, các trường cần xây dựng cơ chế quản trị dựa trên sự minh bạch, công khai và trách nhiệm. Các quy định về phân công công việc, đánh giá kết quả và cơ hội phát triển phải rõ ràng để nhà khoa học được thu hút và đội ngũ đang công tác đều nhìn thấy vai trò, lợi ích và triển vọng của bản thân. Khi các bên cùng nhìn thấy giá trị nhận được từ quá trình hợp tác, việc thu hút nhân tài mới thực sự tạo ra hiệu quả và góp phần hình thành một hệ sinh thái nghiên cứu bền vững.

Cùng chia sẻ về nội dung này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc cho rằng, để nguồn nhân lực chất lượng cao đóng góp vào các mục tiêu phát triển đất nước, việc thu hút nhân tài cần gắn chặt với chiến lược phát triển quốc gia.

Khi Chính phủ xác định rõ những ngành, lĩnh vực cần đầu tư, các trường đại học sẽ chủ động điều chỉnh chiến lược đào tạo và nghiên cứu để đáp ứng nhu cầu phát triển. Ví dụ như đổi mới chương trình đào tạo, phát triển nhóm nghiên cứu và thu hút đội ngũ chuyên gia phù hợp. Điều này cũng giúp những nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài nhìn thấy cơ hội để trở về, được phát huy năng lực và tạo ra giá trị.

Để việc thu hút các nhà khoa học xuất sắc không tạo ra sự cạnh tranh với đội ngũ hiện có, thầy Phúc cho rằng, đây sẽ không phải vấn đề nếu cơ sở giáo dục xác định đúng nhu cầu và có kế hoạch nhân sự rõ ràng.

Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) tuyển chọn nhân tài cho những vị trí còn thiếu, trên cơ sở đánh giá của hội đồng chuyên môn. Chẳng hạn, khi đơn vị dự kiến mở ngành đào tạo mới hoặc đầu tư xây dựng phòng thí nghiệm, trường sẽ cần những nhà khoa học đầu ngành để dẫn dắt các lĩnh vực này. Vì vậy, việc mời các chuyên gia phù hợp về làm việc là để lấp đầy khoảng trống về nhân lực

Thầy Phúc bày tỏ: "Khi quyết định mời một nhà khoa học về trường, chúng tôi đã xác định rõ vị trí học thuật, nhiệm vụ và vai trò mà họ sẽ đảm nhiệm. Một bên có nhu cầu, một bên có năng lực, nên 2 bên bổ sung cho nhau chứ không xung đột. Đơn vị cũng chuẩn bị đầy đủ và đồng bộ từ vị trí công tác, không gian nghiên cứu đến cộng đồng học thuật. Nhờ đó, khi gia nhập trường, các nhà khoa học có ngay điều kiện để triển khai công việc đúng chuyên môn, nhanh chóng hòa nhập và có cơ hội khẳng định năng lực thông qua kết quả nghiên cứu cụ thể. Những thành quả đó cũng sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa, truyền cảm hứng cho đồng nghiệp, người học, từng bước hình thành cộng đồng học thuật vững mạnh".

Nói thêm về cơ chế đánh giá hiệu quả làm việc của các nhà khoa học được thu hút, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc cho hay, trước hết việc đánh giá vẫn được thực hiện theo các quy định hiện hành đối với viên chức.

Song song với đó, ngay từ khi tiếp nhận nhân sự, nhà trường xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) gắn với các chính sách hỗ trợ dành cho từng nhà khoa học. Khi được hưởng những điều kiện thuận lợi về kinh phí, cơ sở vật chất hay cơ hội nghiên cứu, các nhà khoa học cũng cần có cam kết và kết quả tương xứng. Chính quá trình triển khai và kết quả của các đề tài này là cơ sở quan trọng để đánh giá năng lực, hiệu quả làm việc cũng như mức độ đáp ứng kỳ vọng của các nhà khoa học.

Tài liệu tham khảo:

[1] https://moet.gov.vn/tin-tuc/kien-tao-he-sinh-thai-de-nhan-tai-khoa-hoc-gan-bo-va-cong-hien.html

Hồng Linh