Bộ Khoa học và Công nghệ chính thức phê duyệt "Chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc giai đoạn 2026-2030" (Chương trình VREF). Mục tiêu đề ra của chương trình là hằng năm sẽ tuyển chọn, cấp kinh phí nghiên cứu cho khoảng 100 nghiên cứu sinh xuất sắc. Mức hỗ trợ tối đa lên tới 1 tỷ đồng/năm cho mỗi nghiên cứu sinh, trong thời gian không quá 3 năm. Trong đó ưu tiên nguồn lực cho nhóm trực tiếp tham gia các nhiệm vụ nghiên cứu làm chủ, tạo ra công nghệ lõi, phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược.
Chương trình này đang nhận được nhiều sự quan tâm từ phía cơ sở giáo dục đại học.
Trong 3 năm nghiên cứu sinh phải làm chủ, tạo ra công nghệ lõi
Trao đổi với Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư - Tiến sĩ Mai Văn Hưng - Trưởng Bộ môn Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, theo Điều 59 Luật Giáo dục đại học năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2018): “Người học là người đang học tập và nghiên cứu khoa học tại cơ sở giáo dục đại học, gồm sinh viên của chương trình đào tạo đại học; học viên của chương trình đào tạo thạc sĩ; nghiên cứu sinh của chương trình đào tạo tiến sĩ", như vậy, nghiên cứu sinh là tên gọi chung của những người đã hoàn thành chương trình đào tạo đại học hoặc thạc sĩ, tiếp tục tham gia các khóa trình nghiên cứu khoa học; kết quả cuối cùng mà họ hướng đến là bảo vệ thành công luận án tiến sĩ.
"Nghiên cứu sinh là người bước chân vào làm khoa học một cách chuyên nghiệp. Vì thế, việc “hoạt động nghiên cứu làm chủ, tạo ra công nghệ lõi, phát triển các sản phẩm công nghệ mới là hoạt động được ưu tiên” hỗ trợ e rằng sẽ là yêu cầu cao", Giáo sư Mai Văn Hưng bày tỏ quan điểm.
Đồng tình với quan điểm này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Thủy - Giảng viên khoa An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Học viện An ninh nhân dân cho rằng, 3 năm là thời gian để nghiên cứu sinh có thể tạo ra prototype, bằng sáng chế, hoặc công nghệ tiền thương mại, nhưng để ra sản phẩm hoàn chỉnh và thị trường hóa rộng thì thường cần thời gian lâu hơn.
"Cái khó lớn nhất trong nghiên cứu công nghệ nằm ở khoảng cách giữa kết quả học thuật (nghĩa là các bài báo), với việc phát triển thành sản phẩm hoàn chỉnh và đưa ra thị trường. Khoảng cách này càng rõ khi hệ sinh thái hỗ trợ còn thiếu đồng bộ, như phòng thí nghiệm đủ mạnh, nguồn vốn đầu tư hay sự đồng hành từ doanh nghiệp để thử nghiệm và thương mại hóa.
Đối với lĩnh vực công nghệ xanh, thách thức còn lớn hơn khi chi phí thử nghiệm thường cao (liên quan đến năng lượng, vật liệu, môi trường), đồng thời phải đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về môi trường và phát triển bền vững. Bên cạnh đó, thời gian để kiểm chứng hiệu quả thực tế cũng kéo dài, chẳng hạn như đánh giá mức độ giảm phát thải hay vòng đời sản phẩm, khiến quá trình nghiên cứu và ứng dụng trở nên phức tạp hơn", Phó Giáo sư Phạm Thị Thanh Thủy bày tỏ.
Bàn luận về nội dung nêu trên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Hiệu - Nghiên cứu viên, Viện Công nghệ thông tin, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam cho hay, đối với chi phí tại nơi đào tạo phát triển về ngành công nghệ thông tin, nghiên cứu sinh phải tự trả các khoản chi phí cho việc thuê trang thiết bị nghiên cứu nếu không có nhóm cùng nghiên cứu. Tiếp đó là để được bài báo đăng trên các tạp chí quốc tế uy tín (nhóm Q1), thì chi phí xuất bản cũng khá cao với khoảng 100 triệu đồng/bài báo. Với việc hỗ trợ khoảng 1 tỷ đồng/nghiên cứu sinh/năm, Phó Giáo sư Hiệu nhận định là có khả năng đủ cho nghiên cứu sinh làm nghiên cứu và trang trải chi phí sinh hoạt.
"Trong thời gian 3 năm, nghiên cứu sinh phải xác định bắt tay vào hoạt động nghiên cứu ngay thì mới đủ thời gian. Bởi lẽ, để viết được 1 bài báo quốc tế có thể mất 1 năm và cần khoảng 6 tháng viết luận án...Việc phát triển công nghệ mới sẽ có tính chất khó hơn so với tạo ra công nghệ lõi", thầy Hiệu chia sẻ.
Những con số tỷ lệ trong mục tiêu đầu ra còn khó đánh giá
Về mục tiêu đầu ra, chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc giai đoạn 2026-2030 quy định rõ: Tối thiểu 60% kết quả nghiên cứu phải được công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín (thuộc nhóm Q1 hoặc danh mục có uy tín như Nature Index); tối thiểu 20% kết quả nghiên cứu có đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (sáng chế, giải pháp hữu ích hoặc tương đương); tối thiểu 15% kết quả nghiên cứu được chuyển giao, thương mại hóa hoặc ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh.
Đánh giá về mục tiêu này, Giáo sư Mai Văn Hưng cho rằng, trước hết phải xác định rõ con số 60% kết quả nghiên cứu là tính theo “số trang” của luận án, số “nội dung” nghiên cứu hay số “chương, mục” của đề tài luận án? Bởi mỗi ngành học có cách đánh giá các kết quả nghiên cứu khác nhau. Trong thực tế có những đề tài mà kết quả nghiên cứu có thể được công bố trong nhiều bài báo khoa học, nhưng chưa chắc đã có kết quả nghiên cứu đáng ghi nhận hơn đề tài chỉ có ít công bố. Thậm chí, có những lĩnh vực đề tài không có công bố trên các tạp chí nước ngoài nhưng kết quả vẫn được đánh giá cao.
"Ngoài ra các con số “tối thiểu 20% kết quả nghiên cứu có đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tối thiểu 15% kết quả nghiên cứu được chuyển giao, thương mại hóa” cũng không dễ đánh giá. Do đó, bên cạnh việc sử dụng tiêu chí kể trên cần có thêm các tiêu chí khác như sự đánh giá của hội đồng chuyên môn, bằng chứng vận dụng trong thực tiễn, sự đánh giá của người hướng dẫn… Nhìn chung, khoa học phải được đánh giá của những người am hiểu về nó hơn là chỉ căn cứ vào các con số mang tính chủ quan hay kiểm đếm đơn thuần", Trưởng Bộ môn Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội bày tỏ.
Còn Phó Giáo sư Phạm Thị Thanh Thủy nhận định, với các tiêu chí: yêu cầu tối thiểu 60% kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín, 20% có đăng ký sở hữu trí tuệ và 15% được chuyển giao, thương mại hóa cho thấy định hướng rõ ràng trong việc nâng cao chất lượng nghiên cứu gắn với ứng dụng thực tiễn. Đây là cách tiếp cận tích cực nhằm tránh tình trạng nghiên cứu chỉ dừng ở bài báo mà thiếu giá trị sử dụng. Tuy nhiên, các tiêu chí này cũng đặt ra không ít thách thức khi áp dụng đồng đều cho mọi lĩnh vực. Tỷ lệ công bố ở tạp chí quốc tế uy tín (nhóm Q1) ở mức cao có thể gây áp lực lớn, đặc biệt với các ngành mang tính ứng dụng hoặc cần thời gian tích lũy dữ liệu dài. Yêu cầu về sở hữu trí tuệ và thương mại hóa cũng không dễ đạt được, do phụ thuộc vào tính chất đề tài, nguồn lực triển khai và mức độ kết nối với doanh nghiệp.
"Vì vậy, dù định hướng là đúng nhưng các tiêu chí cần được vận dụng linh hoạt theo từng lĩnh vực để vừa đảm bảo chất lượng, vừa khuyến khích sáng tạo thực chất", cô Thủy nói.
Còn theo Phó Giáo sư Đặng Thị Oanh, nguyên Chủ nhiệm khoa Hóa học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đồng tình cao hỗ trợ 1 tỷ đồng đối với nghiên cứu sinh xuất sắc. Điều này sẽ giúp thúc đẩy hoạt động nghiên cứu nói chung và nghiên cứu về lĩnh vực công nghệ nói riêng. Tuy nhiên, Phó Giáo sư Oanh nhận thấy rằng, tiêu chí nghiên cứu sinh phải có tối thiểu 60% kết quả nghiên cứu công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín sẽ tương đương với 3 bài báo đăng ở tạp chí quốc tế là khá nhiều.
Để kết quả nghiên cứu được thực chất, Phó Giáo sư Phạm Thị Thanh Thủy cho hay, cần có cơ chế quản lý chặt chẽ nhằm tránh “bệnh thành tích”, đặc biệt khi chương trình gắn với các tiêu chí định lượng cụ thể và nguồn kinh phí lớn. Nếu không kiểm soát phù hợp, có thể xuất hiện tình trạng chạy theo số lượng bài báo, đăng ký sở hữu trí tuệ hình thức hoặc thương mại hóa mang tính đối phó.
"Tuy nhiên, quản lý cũng cần được thiết kế theo hướng linh hoạt và đánh giá thực chất, thay vì quá cứng nhắc về chỉ tiêu. Điều quan trọng là tập trung vào chất lượng và tác động của kết quả nghiên cứu, có cơ chế thẩm định độc lập với sự tham gia của chuyên gia và doanh nghiệp, đồng thời gắn giải ngân với tiến độ và hiệu quả đầu ra. Như vậy, vừa đảm bảo minh bạch, tránh hình thức, vừa không làm hạn chế sự sáng tạo và chủ động của nhà nghiên cứu", Phó Trưởng khoa An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Học viện An ninh nhân dân nói.
Còn Giáo sư Mai Văn Hưng cho rằng, cần xây dựng tiêu chí đánh giá sự “xuất sắc” của nghiên cứu sinh một cách chặt chẽ, có bằng chứng có thể đánh giá được. Đồng thời, nên gắn hoạt động nghiên cứu của nghiên cứu sinh với người hướng dẫn, cần ưu tiên đề tài, dự án theo hướng nghiên cứu của luận án tiến sĩ cho giảng viên hướng dẫn và sự chịu trách của cả hai đối với nguồn tài trợ như trong chương trình.