Thi tốt nghiệp THPT: Giáo viên hướng dẫn kĩ năng để làm tốt thể loại thơ trữ tình

05/05/2026 06:45
Cao Nguyên
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Bài viết hướng dẫn học sinh kĩ năng đọc hiểu và viết đối với thể loại thơ trữ tình trong quá trình ôn thi tốt nghiệp trung học phổ thông môn Ngữ văn.

Sát kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông, nhiều học sinh vẫn lúng túng khi đọc hiểu và viết đoạn văn, bài văn về thơ trữ tình.

Nắm chắc những kĩ năng này sẽ giúp học sinh không chỉ làm đúng mà còn làm hay, từ đó tự tin bước vào kì thi và đạt kết quả tốt.

Trong phạm vi bài viết này, người viết là giáo viên Ngữ văn trung học phổ thông hướng dẫn học sinh kĩ năng đọc hiểu và viết đối với thể loại thơ trữ tình trong quá trình ôn thi tốt nghiệp môn Ngữ văn.

c21d360c-8613-44c0-b107-50de177666a2.png
Ảnh minh hoạ được tạo bởi AI

Kĩ năng đọc hiểu thơ trữ tình

Thứ nhất, ở mức độ nhận biết, việc xác định thể thơ và hình ảnh thơ là rất quan trọng. Các em cần đếm số chữ trong mỗi dòng để nhận ra thể bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy chữ hay tám chữ. Nếu số chữ không đều trong các dòng thơ, đó là thơ tự do. Riêng thể lục bát có đặc điểm quen thuộc là một câu sáu chữ đi liền một câu tám chữ.

Bên cạnh đó, đề thường hỏi về từ ngữ, hình ảnh thơ. Riêng hình ảnh thơ chính là những gì hiện lên qua ngôn từ, giúp người đọc có thể hình dung con người, sự vật một cách cụ thể.

Thứ hai, sang mức độ thông hiểu, học sinh cần chú ý đến giọng điệu và cách thể hiện cảm xúc của tác giả trong văn bản.

Nhiều bài thơ sử dụng lời tâm sự, tạo nên giọng điệu thiết tha, sâu lắng và bộc lộ tình cảm của nhân vật trữ tình.

Hoặc khi xác định mạch cảm xúc, các em cần dựa vào những từ ngữ giàu sắc thái biểu cảm, nhất là các tính từ chỉ trạng thái tình cảm để diễn đạt cho đúng trọng tâm câu hỏi.

Với biện pháp tu từ, trước hết cần xác định rõ chúng được thể hiện qua từ ngữ, hình ảnh hoặc câu thơ nào. Sau đó, cần phân tích theo hai hướng: làm rõ giá trị nội dung, tức là biện pháp đó giúp biểu đạt ý nghĩa, tư tưởng hay cảm xúc gì; chỉ ra giá trị nghệ thuật, tức là nó góp phần làm cho câu thơ trở nên sinh động, giàu hình ảnh và tăng sức gợi cảm như thế nào.

Thứ ba, đến mức độ vận dụng, câu hỏi thường yêu cầu rút ra thông điệp từ văn bản cho bản thân. Đây là phần thể hiện suy nghĩ cá nhân, không phải lặp lại nội dung bài thơ.

Nếu gặp yêu cầu so sánh, cần chỉ ra điểm giống nhau về nội dung giữa các ngữ liệu và lí giải ý nghĩa của sự tương đồng đó.

Kĩ năng viết đoạn văn 200 chữ, bài văn 600 chữ

Ở phần viết đoạn văn nghị luận về bài thơ hoặc đoạn thơ, đề bài thường tập trung vào một số dạng quen thuộc như: cảm nhận nội dung; phân tích nhân vật trữ tình; làm rõ chủ đề; tái hiện bức tranh thiên nhiên hoặc chỉ ra đặc sắc nghệ thuật.

Khi triển khai, câu mở đoạn cần giới thiệu ngắn gọn tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận, đồng thời thể hiện được ấn tượng hoặc cảm nhận ban đầu để tạo định hướng cho toàn đoạn.

Phần thân đoạn triển khai bằng việc phân tích các từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ,… nhằm làm sáng tỏ nội dung cần nghị luận. Trong quá trình phân tích, nên lựa chọn dẫn chứng tiêu biểu (từ ngữ, hình ảnh), tránh trích dẫn dài và lan man.

Cuối đoạn cần có một câu khái quát lại vấn đề, vừa tổng hợp nội dung đã phân tích, vừa tạo sự hoàn chỉnh và chặt chẽ cho đoạn văn.

Với bài văn hoàn chỉnh, mở bài cần giới thiệu được tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận, có thể trích dẫn văn bản thơ.

Phần thân bài, trước hết cần khái quát chung về bài thơ hoặc đoạn thơ để định hướng nội dung. Sau đó, khi phân tích, không nên tách rời từng câu một cách máy móc mà cần bám theo mạch cảm xúc, phân tích các từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ để làm rõ nội dung.

Từ đó, học sinh cần nâng lên bước đánh giá tư tưởng, chỉ ra thông điệp và giá trị mà bài thơ gửi gắm.

Song song với nội dung, cần làm rõ các yếu tố nghệ thuật như thể thơ; vần, nhịp; giọng điệu; biện pháp tu từ,… trong việc biểu đạt cảm xúc của tác giả.

Đề luyện tập viết bài nghị luận về thơ trữ tình

Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ sau:

Trên đường về nhớ đầy

Chiều chậm đưa chân ngày

Tiếng buồn vang trong mây

* * *

Chim rừng quên cất cánh

Gió say tình ngây ngây

Có phải sầu vạn cổ

Chất trong hồn chiều nay?

* * *

Tôi là người lữ khách

Màu chiều khó làm khuây

Ngỡ lòng mình là rừng,

Ngỡ hồn mình là mây,

* * *

Nhớ nhà châm điếu thuốc

Khói huyền bay lên cây…

(Màu cây trong khói, Hồ Dzếnh)

Gợi ý đáp án

Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau:

a. Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về dung lượng và sử dụng bằng chứng

- Vấn đề nghị luận: phân tích nội dung và nghệ thuật bài thơ “Màu cây trong khói”.

- Dung lượng: khoảng 600 chữ.

- Bằng chứng: bài thơ “Màu cây trong khói” của Hồ Dzếnh.

b. Yêu cầu cụ thể: thí sinh triển khai bài viết theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận.

b1. Viết được một bài và kết bài cho bài văn nghị luận văn học

- Mở bài: giới thiệu được vấn đề nghị luận.

- Kết bài: khẳng định được vấn đề nghị luận.

b2. Nội dung

Khái quát chung về thể thơ; nhân vật trữ tình, cảm hứng chủ đạo và chủ đề bài thơ.

* Khổ 1:

- Không gian chiều tà chậm rãi, gợi cảm giác thời gian như ngưng đọng: “Chiều chậm đưa chân ngày”.

- Nhịp thơ nhẹ, kéo dài như bước đi mỏi mệt của thời gian, khiến cảnh vật trở nên tĩnh lặng và trĩu nặng.

- “Tiếng buồn vang trong mây” là tiếng lòng của nhân vật trữ tình. Nỗi buồn dường như lan tỏa, thấm vào cả trời đất, khiến cảnh chiều trở thành tấm gương phản chiếu tâm trạng con người.

* Khổ 2:

- Biện pháp tu từ nhân hoá: “chim rừng quên cất cánh”, “gió say tình ngây ngây” tạo nên một thế giới như ngưng chuyển động, chìm trong trạng thái mơ hồ, lặng lẽ.

- Câu hỏi tu từ “Có phải sầu vạn cổ / Chất trong hồn chiều nay?” như một lời tự vấn đầy day dứt. Nỗi buồn triền miên, dằng dặc như tích tụ từ ngàn xưa.

* Khổ 3:

- Nhân vật trữ tình “lữ khách” gợi nên thân phận lênh đênh, xa xứ. Màu chiều “khó làm khuây” cho thấy nỗi buồn khó giải tỏa, càng nhìn cảnh lại càng thêm sầu.

- Hai câu “Ngỡ lòng mình là rừng / Ngỡ hồn mình là mây” thể hiện sự hòa tan giữa con người và thiên nhiên.

* Khổ 4:

- Hành động “châm điếu thuốc” chứa đầy nỗi niềm, tâm trạng. Khói thuốc “huyền bay lên cây” tạo nên một hình ảnh mờ ảo, như nỗi nhớ lan tỏa.

- Nỗi nhớ quê hương không bộc lộ trực tiếp mà thấm vào từng cử chỉ, từng hình ảnh, trở nên sâu lắng.

=> Bài thơ thể hiện nỗi buồn cô đơn của người xa xứ, đồng thời gửi gắm tâm trạng hoài niệm, nhớ quê hương da diết.

b3. Nghệ thuật

- Bài thơ được viết theo thể thơ năm chữ, gieo vần chân, ngắt nhịp linh hoạt tạo nhịp điệu nhẹ nhàng.

- Hình ảnh thơ mộc mạc mà phảng phất vẻ cổ điển, gắn với thiên nhiên như chiều, mây, gió, chim, khói, giàu khả năng gợi tả và bộc lộ tâm trạng.

- Sử dụng các biện pháp tu từ như ẩn dụ, nhân hóa, so sánh để tăng sức biểu đạt.

- Giọng điệu trầm buồn, da diết, tạo cảm xúc sâu lắng.

b4. Sáng tạo

- Có những ý đột phá, vượt ra ngoài Đáp án nhưng có sức thuyết phục.

- Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.

Tài liệu tham khảo:

https://vanvn.vn/am-vang-hon-tho-ho-dzenh-tieu-luan-cua-nguyen-thi-thu-trang/

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

Cao Nguyên