Hỗ trợ 1 tỷ đồng/nghiên cứu sinh xuất sắc: Bước tiến trong tư duy gắn đầu tư với đầu ra đo được

05/05/2026 06:25
Mạnh Đoàn
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Yêu cầu 60% công bố quốc tế, 20% đăng ký sở hữu trí tuệ, 15% chuyển giao - phản ánh một tư duy quản lý đúng hướng: gắn đầu tư với đầu ra đo được.

Chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc giai đoạn 2026-2030 (Vietnam Research Excellence Fellowship - VREF) hiện đang nhận được nhiều sự quan tâm từ các chuyên gia. Với dự kiến mỗi năm hỗ trợ khoảng 100 nghiên cứu sinh với mức tối đa 1 tỷ đồng/năm/người. Trong đó ưu tiên nguồn lực cho nhóm trực tiếp tham gia các nhiệm vụ nghiên cứu làm chủ, tạo ra công nghệ lõi, phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược.

Chương trình VREF đặt ra mục tiêu, nghiên cứu sinh phải có tối thiểu 60% kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín (thuộc nhóm Q1 hoặc danh mục có uy tín như Nature Index); Tối thiểu 20% kết quả nghiên cứu có đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (sáng chế, giải pháp hữu ích hoặc tương đương); Tối thiểu 15% kết quả nghiên cứu được chuyển giao, thương mại hóa hoặc ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh.

Hỗ trợ 1 tỷ đồng/năm/nghiên cứu sinh xuất sắc tạo chuyển biến lớn trong nghiên cứu khoa học

Đánh giá về những mục tiêu của chương trình, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, nghiên cứu sinh, trợ giảng Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội - Nguyễn Thảo Linh cho hay:

Dù làm trong môi trường sư phạm nên các hoạt động giảng dạy, hỗ trợ nghiên cứu hay tiếp cận tài liệu cũng thuận lợi hơn so với nhiều nghiên cứu sinh khác. Tuy nhiên bản thân cũng khá vất vả khi phải cân đối giữa việc học tập, nghiên cứu và đi làm.

Vì vậy, với mức hỗ trợ kinh phí 1 tỷ đồng/năm cho một nghiên cứu sinh trong 3 năm, theo quan điểm của nghiên cứu sinh Nguyễn Thảo Linh, đây là một mức hỗ trợ rất đáng kể cho hoạt động làm nghiên cứu tại Việt Nam. Đối với ngành Luật, chi phí nghiên cứu được sử dụng chủ yếu vào việc khảo sát thực tế. Dù vậy, để đạt được các tiêu chí đầu ra của chương trình, ngoài kinh phí, yếu tố quan trọng hơn vẫn là môi trường học thuật, sự hướng dẫn và kết nối nghiên cứu.

nghien-cuu-sinh.jpg
Ảnh minh họa. Ảnh: Đức Anh

Đánh giá ở góc độ là nghiên cứu sinh ngành Luật, chị Nguyễn Thảo Linh nhận thấy các tiêu chí được Bộ Khoa học và Công nghệ đưa ra có định hướng rõ ràng, đặc biệt ở việc gắn hoạt động nghiên cứu với các đầu ra cụ thể như công bố quốc tế, sở hữu trí tuệ và khả năng ứng dụng.

"Về những tiêu chí trên, theo tôi là rất cần thiết để nâng chất lượng nghiên cứu ở Việt Nam, tránh tình trạng nghiên cứu mang tính hình thức hoặc chỉ phục vụ việc tốt nghiệp. Tuy nhiên, tôi nhận thấy các tiêu chí đưa ra khá cao và thử thách cho các nghiên cứu sinh, nhất là khi yêu cầu đồng thời nhiều đầu ra như bài báo Q1, đăng ký sở hữu trí tuệ và chuyển giao trong thời gian tương đối ngắn", nghiên cứu sinh Nguyễn Thảo Linh chia sẻ.

Ở góc độ đơn vị đào tạo, đánh giá về tiêu chí của Bộ Khoa học và Công nghệ, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hậu - Trưởng khoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên nhận định, bộ ba tiêu chí định lượng của Bộ Khoa học và Công nghệ đưa ra: 60% công bố quốc tế, 20% đăng ký sở hữu trí tuệ, 15% chuyển giao - phản ánh một tư duy quản lý đúng hướng: gắn đầu tư với đầu ra đo được. Đây là điểm tiến bộ so với cách tài trợ nghiên cứu truyền thống ở Việt Nam vốn thiếu cơ chế kiểm chứng độc lập.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, ba tiêu chí này có những điểm cần làm rõ và bổ sung. Theo đó, thầy Hậu băn khoăn về tiêu chí 60% kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín, vấn đề lớn nhất không phải là con số 60% là quá cao hay quá thấp, mà là "60% của cái gì" và "quốc tế uy tín" nghĩa là gì.

"Hiện nay, ranh giới giữa tạp chí Scopus uy tín và tạp chí predatory đang rất mờ nhạt, và nếu không làm rõ, tiêu chí này hoàn toàn có thể bị "đáp ứng trên giấy" mà không phản ánh chất lượng thực. Hướng tinh chỉnh hợp lý là phân tầng theo lĩnh vực: với AI, tự động hóa, công nghệ thông tin thì chuẩn nên là bài báo Q1/Q2 hoặc hội nghị hàng đầu được xếp hạng quốc tế; với vật liệu mới, bán dẫn thì có thể tham chiếu danh sách tạp chí của các tổ chức chuyên ngành như MRS, IEEE, ACS; với các lĩnh vực kỹ thuật ứng dụng đặc thù thì hội đồng ngành cần được trao quyền xác định chuẩn tương đương có giá trị kiểm chứng được", Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hậu nói.

pgs-nguyen-van-hau-dhspkt-hung-yen.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hậu - Trưởng khoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên. Ảnh: NVCC

Về tiêu chí 20% đăng ký sở hữu trí tuệ và 15% chuyển giao, Trưởng khoa Công nghệ thông tin của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên đánh giá, bản chất tỷ lệ nêu trên là đúng khi muốn gắn nghiên cứu với thực tiễn, nhưng cả hai đều có một điểm yếu chung: chu kỳ thực tế của chúng dài hơn chu kỳ tài trợ. Một sáng chế từ lúc nộp đơn đến khi được cấp bằng thường mất 2 - 4 năm; một kết quả nghiên cứu từ lúc hoàn thành đến lúc được doanh nghiệp tiếp nhận và triển khai thực sự có thể mất 3 - 5 năm. Đánh giá những tiêu chí này tại thời điểm kết thúc 3 năm tài trợ e rằng chưa phản ánh thực tế.

Ngoài ra, thầy Hậu nhận thấy chương trình chưa có tiêu chí đo tác động khoa học thực chất của công bố - số lượng bài báo không nói lên nhiều bằng việc bài báo đó có được cộng đồng quốc tế trích dẫn và kế thừa không. Cũng chưa có tiêu chí nào về sự hình thành nhóm nghiên cứu xung quanh nghiên cứu sinh đó và đặc biệt, chưa có tiêu chí về liêm chính học thuật - trong bối cảnh gian lận công bố và đạo văn vẫn còn là vấn đề nhức nhối tại Việt Nam.

3 năm có đủ để nghiên cứu làm chủ, tạo ra công nghệ lõi, phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược?

Bàn luận về nội dung thời gian 3 năm liệu đủ để nghiên cứu sinh nghiên cứu làm chủ, tạo ra công nghệ lõi, phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược hay không, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hậu cho hay, chương trình ưu tiên các đề tài hướng tới làm chủ và tạo ra công nghệ lõi là hoàn toàn phù hợp với giai đoạn phát triển hiện tại của Việt Nam. Chúng ta đang đứng trước một cơ hội hiếm có khi chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc, làn sóng đầu tư vào bán dẫn, công nghệ AI, vật liệu tiên tiến và tự động hóa đang đổ vào khu vực Đông Nam Á — và Việt Nam cần có lực lượng nghiên cứu đủ năng lực để không chỉ đón nhận, mà còn tham gia vào quá trình tạo ra công nghệ đó. Về mặt đường lối, định hướng này hoàn toàn nhất quán với tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW — chuyển từ "tiếp nhận và làm theo" sang "làm chủ và dẫn dắt".

"Tuy nhiên, điều cần bàn kỹ hơn là kỳ vọng về thời gian. Nếu nhìn ra thế giới, hầu hết các công nghệ lõi thực sự — từ chip TSMC cho đến mô hình nền tảng của Google DeepMind — đều là kết quả của nhiều nhóm nghiên cứu làm việc trong nhiều năm, không phải của một nghiên cứu sinh đơn lẻ trong 3 năm. Điều đó không có nghĩa là 3 năm là vô nghĩa, mà cần xác định lại đúng vai trò của nghiên cứu sinh trong hệ sinh thái đó.

Vai trò khả thi và có giá trị nhất của một nghiên cứu sinh xuất sắc trong 3 năm là đặt nền móng kỹ thuật cho một hướng công nghệ mới, tạo ra proof-of-concept (PoC) đủ chất lượng để thu hút đầu tư tiếp theo, và công bố kết quả để cộng đồng khoa học quốc tế có thể kiểm chứng và kế thừa.

Trong lĩnh vực công nghệ AI, đó có thể là một kiến trúc mô hình mới cho bài toán đặc thù của Việt Nam; trong bán dẫn, đó có thể là một quy trình thiết kế chip cụ thể; trong vật liệu mới, đó là một tổ hợp vật liệu với tính năng được xác minh thực nghiệm. Đây là những đóng góp thực chất, nhưng rõ ràng khác với "sản phẩm công nghệ hoàn chỉnh có thể thương mại hóa ngay", thầy Hậu nêu quan điểm.

Mạnh Đoàn