Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã ký ban hành Quyết định số 2103/QĐ-BKHCN phê duyệt "Chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc giai đoạn 2026-2030" (Vietnam Research Excellence Fellowship – VREF). Theo đó, chương trình dự kiến mỗi năm hỗ trợ khoảng 100 nghiên cứu sinh với mức tối đa 1 tỷ đồng/năm/người.

Các chuyên gia đánh giá đây là đầu tư trọng điểm, sẽ tác động tích cực đến nghiên cứu, phát triển công nghệ lõi và đổi mới sáng tạo đồng thời cũng đòi hỏi nghiên cứu sinh phải vô cùng nỗ lực.

Cần ban hành chuẩn chương trình đào tạo nghiên cứu sinh xuất sắc

Nhận định chung về chương trình, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Quách Thanh Hải - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, chương trình VREF, cho thấy Nhà nước luôn quan tâm và có định hướng rõ ràng là đầu tư mạnh mẽ cho “tinh hoa”, có trọng tâm, trọng điểm thay vì dàn trải. Chính sách hỗ trợ tối đa 1 tỷ đồng/năm/người cho nghiên cứu sinh xuất sắc sẽ tạo điều kiện cho các trường đầu tư mạnh mẽ cho các phòng thí nghiệm, trang thiết bị nghiên cứu đồng thời giúp cho người học toàn tâm, toàn ý làm nghiên cứu, không bị phân tán bởi áp lực tài chính.

Mặc dù vậy, quy mô 100 nghiên cứu sinh/năm không phải là con số lớn nếu xét quy mô toàn hệ thống đào tạo trình độ tiến sĩ của cả nước. Đây có thể nói là con số hợp lý ở giai đoạn đầu, để tạo ảnh hưởng, lan tỏa nhưng vẫn kiểm soát được chất lượng và sản phẩm đầu ra. Sau vài năm, nếu có hiệu quả, sẽ mở rộng quy mô lớn hơn.

Chương trình nêu rõ, tổ chức thực hiện cơ chế tuyển chọn độc lập, khách quan, cạnh tranh; phân bổ kinh phí tập trung, ưu tiên nguồn lực cho các nhiệm vụ làm chủ, sáng tạo công nghệ lõi, phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược; phần còn lại dành cho các nhiệm vụ nghiên cứu xuất sắc trong các lĩnh vực khác.

Chia sẻ về nội dung trên, thầy Hải bày tỏ: "Điều này về cơ bản sẽ giúp giải quyết tình trạng đầu tư dàn trải trước đây, vì nguồn lực tài chính không còn bị chia nhỏ cho quá nhiều đề tài, dự án mà thay vào đó dồn sức cho các nghiên cứu có tiềm năng và đột phá về khoa học. Khi cơ chế cạnh tranh, tuyển chọn độc lập được áp dụng, các đề tài có tính mới, đột phá, có tính ứng dụng và có khả năng tạo ra sản phẩm sẽ được ưu tiên tuyển chọn.

Về cơ chế, trước hết phải minh bạch, công khai các tiêu chí lựa chọn và có phản biện độc lập để đảm bảo tính khách quan. Như vậy, rất cần ban hành chuẩn chương trình đào tạo nghiên cứu sinh xuất sắc, trong đó có các tiêu chí đầu vào, đầu ra, cán bộ hướng dẫn… và từ đó có đánh giá nhiều vòng như xét duyệt hồ sơ, phản biện kín bởi các chuyên gia độc lập và hội đồng đánh giá bước cuối cùng.

Thành phần của hội đồng phải là các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, có uy tín về học thuật trong và ngoài nước, kể cả doanh nghiệp nếu cần. Cơ chế tài chính và các chính sách ưu tiên cũng cần phải có và minh bạch, khả thi để các cơ sở đào tạo, các đơn vị đồng hành và nghiên cứu sinh có thể thực hiện; đồng thời các cơ quan chức năng có thể kiểm tra, giám sát".

Với nhiệm vụ, giải pháp ưu tiên hỗ trợ các nhiệm vụ thiết lập được cơ chế đồng hướng dẫn với chuyên gia uy tín quốc tế, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài; khuyến khích gắn kết với các nhóm nghiên cứu mạnh và mạng lưới hợp tác quốc tế, vị Phó Hiệu trưởng chỉ ra, để thu hút chuyên gia quốc tế đi vào thực chất, cần có chính sách đãi ngộ hợp lý, đủ hấp dẫn như mức lương, chi phí đi lại, môi trường và điều kiện làm việc linh hoạt, có thể làm việc trực tiếp ở Việt Nam hay gián tiếp ở nước ngoài.

Việc hợp tác cần gắn với trách nhiệm rõ ràng, cụ thể là các sản phẩm đầu ra khi nghiên cứu. Đi cùng với đó là có cơ chế giám sát, hỗ trợ để đảm bảo các chuyên gia được tham gia thực sự trong hợp tác nghiên cứu.

Dưới góc nhìn của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Vũ - Phó Trưởng khoa Khoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), việc hỗ trợ nghiên cứu sinh là vô cùng cần thiết, với các nghiên cứu sinh xuất sắc lại càng quan trọng. Chương trình VREF sẽ có tác động lớn đến nghiên cứu, phát triển công nghệ lõi và đổi mới sáng tạo nói chung. Thực tế, nhiều quốc gia khác trên thế giới đã thực hiện việc này, với Việt Nam đây là điểm khởi đầu tốt cho thấy sự thay đổi góc nhìn. Nghiên cứu sinh những người làm nghiên cứu, phải được trả thù lao và được nhận hỗ trợ kinh phí nghiên cứu.

Một trong những mục tiêu của chương trình là tối thiểu 60% kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế uy tín (thuộc nhóm Q1 hoặc danh mục có uy tín như Nature Index); tối thiểu 20% kết quả nghiên cứu có đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (sáng chế, giải pháp hữu ích hoặc tương đương); tối thiểu 15% kết quả nghiên cứu được chuyển giao, thương mại hóa hoặc ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh.​

Thầy Vũ cho hay, tỷ lệ này là hợp lý song cần được nhìn nhận linh hoạt theo từng hình thức nghiên cứu. Với những nghiên cứu sinh theo hướng nghiên cứu cơ bản, việc đạt được công bố quốc tế chất lượng cao là khả thi nhưng khả năng tạo ra sáng chế hoặc giải pháp hữu ích sẽ hạn chế hơn. Vì vậy, các tỷ lệ này nên được xem như định hướng tham khảo, giúp lựa chọn đề tài phù hợp với thế mạnh và mục tiêu nghiên cứu, thay vì áp dụng cứng nhắc.

Nghiên cứu khoa học, đặc biệt là các lĩnh vực nền tảng, thường có độ trễ dài trước khi có thể ứng dụng thực tiễn. Những kết quả mang tính nền tảng cần thời gian tích lũy, sự tham gia của nhiều nhóm nghiên cứu trong thời gian dài mới có thể góp phần hình thành công nghệ lõi. Do đó, trong khoảng thời gian đào tạo nghiên cứu sinh (khoảng 3–5 năm), rất khó kỳ vọng tạo ra ngay những đột phá ứng dụng rõ rệt. Bởi thế, cần tính đến “khoảng trễ” trong chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành ứng dụng.

Liên quan đến định hướng sản phẩm và đầu ra nghiên cứu, thầy Vũ cho rằng: "Cần phân loại rõ ba loại hình nghiên cứu: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai để từ đó thiết kế tiêu chí đầu ra tương ứng cho từng nhóm, thay vì “đặt tất cả vào một giỏ”. Ngay từ khâu phân bổ nguồn lực, chương trình có thể xác định tỷ lệ đầu tư cho từng loại hình nghiên cứu, ví dụ bao nhiêu nghiên cứu sinh theo hướng cơ bản, bao nhiêu theo hướng ứng dụng để vừa phù hợp với đặc thù khoa học, vừa đạt được mục tiêu đề ra".

nvu2x.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Vũ - Phó Trưởng khoa Khoa Công nghệ thông tin, Trường Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Ảnh: NVCC.

Nghiên cứu sinh phải thay đổi tư duy, phương pháp nghiên cứu

Chương trình đưa sự tham gia thực chất của doanh nghiệp, từ bước đề xuất ý tưởng, đồng tài trợ, phối hợp triển khai đến tiếp nhận, thương mại hóa kết quả, thành tiêu chí trọng yếu, tiến tới bắt buộc trong toàn bộ quá trình đánh giá, tuyển chọn và nghiệm thu nhiệm vụ nghiên cứu. Tiến sĩ Quách Thanh Hải phân tích, khi có doanh nghiệp tham gia xuyên suốt sẽ tạo ra sự thay đổi cách nghĩ, cách làm nghiên cứu khoa học so với trước đây chỉ mang tính học thuật, hàn lâm thuần túy. Các nghiên cứu sẽ hướng đến tính ứng dụng kết quả vào đời sống hay sản xuất.

Doanh nghiệp tham gia như đơn vị đặt hàng các bài toán về công nghệ, tài trợ về tài chính, hay cung cấp các yêu cầu, bài toán thực tiễn cho nghiên cứu sinh, doanh nghiệp cũng đóng vai trò cầu nối kết quả nghiên cứu với các doanh nghiệp và thị trường thương mại. Mặc dù vậy, cần có các quy định rõ ràng về sở hữu trí tuệ, phân chia lợi ích khi các doanh nghiệp tham gia vào các nghiên cứu. Bởi thế, cần có tổ chức hay cơ quan quản lý điều phối theo luật định để tránh rủi ro cho cả người nghiên cứu và cả phía doanh nghiệp.

Chương trình cũng chỉ rõ định hướng sản phẩm và đầu ra nghiên cứu. Cụ thể, việc cấp kinh phí và nghiệm thu nhiệm vụ nghiên cứu phải dựa trên cam kết và kết quả thực tế của các nhóm sản phẩm đầu ra gồm:

Sản phẩm công nghệ lõi: Nghiên cứu sinh phải trực tiếp tham gia làm chủ, sáng tạo ra các giá trị nền tảng, có thể định lượng được, bao gồm nhưng không giới hạn ở các loại hình sau: thuật toán, mô hình, phần mềm lõi, quy trình công nghệ, vật liệu mới, bản thiết kế hệ thống phần cứng/vi mạch hoặc giải pháp kỹ thuật có khả năng thương mại hóa);

Sản phẩm khoa học và tài sản trí tuệ: Yêu cầu có công bố khoa học trên các tạp chí quốc tế có uy tín hoặc được đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ (bao gồm sáng chế, giải pháp hữu ích) gắn liền với kết quả nghiên cứu;

Tác động thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu phải chỉ ra được khả năng tích hợp vào các sản phẩm công nghệ chiến lược quốc gia hoặc đề xuất được giải pháp đột phá giải quyết các bài toán kinh tế - xã hội cụ thể.

Trước yêu cầu đầu ra về công bố quốc tế, sở hữu trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, Tiến sĩ Quách Thanh Hải chỉ ra: "Nghiên cứu sinh phải vô cùng nỗ lực và cần có sự thay đổi tư duy, phương pháp nghiên cứu so với mô hình truyền thống là chỉ tập trung nghiên cứu để hoàn thành luận án.

Nghiên cứu sinh phải xác định hướng nghiên cứu tạo ra tri thức mới và phải có tiềm năng ứng dụng, chuyển giao hay thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Điều này đòi hỏi nghiên cứu sinh cùng lúc phải đảm bảo tiến độ nghiên cứu, công bố quốc tế, đăng ký sở hữu trí tuệ hay các thử nghiệm sản phẩm ứng dụng. Như vậy áp lực về nghiên cứu học thuật và áp lực tâm lý sẽ lớn hơn so với trước đây.

Bởi vậy, nghiên cứu sinh cần được hỗ trợ tài chính ổn định, các thủ tục hành chính, các phương tiện nghiên cứu, phòng thí nghiệm, sự hỗ trợ từ các đồng nghiệp, nhóm nghiên cứu, giảng viên và chuyên gia hướng dẫn để đạt được các KPI yêu cầu đầu ra".

tin-chi-1.jpg
Tiến sĩ Quách Thanh Hải - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Website nhà trường.

Cùng chia sẻ về việc tăng cường sự tham gia thực chất của doanh nghiệp trong toàn bộ quá trình nghiên cứu, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Vũ cho rằng cũng cần tiếp cận theo hướng phân loại rõ ràng các loại hình nghiên cứu. Với các nghiên cứu cơ bản, đặc biệt là nghiên cứu lý thuyết mục tiêu chủ yếu là tạo ra tri thức nền tảng, nên doanh nghiệp khó có thể tham gia trực tiếp hoặc ứng dụng ngay vào thực tiễn. Trong khi đó, các nghiên cứu theo hướng ứng dụng và triển khai lại có tính gần với thị trường hơn, doanh nghiệp có thể tham gia hiệu quả ngay từ khâu đề xuất ý tưởng, cung cấp dữ liệu, đồng tài trợ đến triển khai và thương mại hóa kết quả.

“Nếu không phân loại rõ ràng mà yêu cầu doanh nghiệp tham gia vào tất cả các loại hình nghiên cứu, nguồn lực rất dễ bị dàn trải và khó đạt hiệu quả như kỳ vọng. Doanh nghiệp nên tập trung tham gia vào các nghiên cứu ứng dụng và triển khai, nơi họ có thể đóng góp và khai thác giá trị nhanh hơn, thay vì dàn trải ở mọi loại hình nghiên cứu.

Tuy nhiên, về lâu dài, các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp lớn cần có tầm nhìn dài hạn hơn, sẵn sàng đầu tư cho cả nghiên cứu cơ bản mà không đặt kỳ vọng thu hồi lợi ích ngay lập tức. Những khoản đầu tư này có thể chưa mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp trong ngắn hạn, nhưng sẽ góp phần xây dựng nền tảng tri thức và công nghệ lõi cho quốc gia, từ đó tạo ra lợi ích lan tỏa trong tương lai” - thầy Vũ bày tỏ.

Bên cạnh đó, về nguyên tắc triển khai chương trình, có nêu, rủi ro dẫn đến kết quả nghiên cứu không đạt mục tiêu đề ra, phát sinh từ bản chất khoa học của nhiệm vụ hoặc các yếu tố khách quan trong quá trình thực hiện, được xem xét chấp nhận theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trên cơ sở tổ chức, cá nhân thực hiện đã tuân thủ đầy đủ quy trình, quy định và cam kết.

Thầy Vũ phân tích, đây là cách tiếp cận đúng với bản chất của khoa học. Rủi ro không chỉ là thách thức mà còn mang lại những giá trị nhất định. Ngay cả khi một nghiên cứu không đạt được kết quả như kỳ vọng, người thực hiện vẫn có thể tích lũy kinh nghiệm, từ đó cải thiện và làm tốt hơn ở những nghiên cứu tiếp theo. Trong thực tế, sẽ có những nghiên cứu sinh đạt kết quả tốt, nhưng cũng có những trường hợp không thành công, do không tìm ra giải pháp mới hoặc bị vượt qua bởi các hướng tiếp cận hiệu quả hơn và công bố nhanh hơn.

Tuy nhiên, để nguyên tắc này đi vào thực chất, theo Phó Giáo sư Vũ, không chỉ cần thay đổi về chính sách mà còn cần đổi mới tư duy trong công tác đánh giá. Hội đồng khoa học cần xem xét kết quả nghiên cứu trên cơ sở tiềm năng, quá trình thực hiện và mức độ nỗ lực, thay vì chỉ dựa vào việc hoàn thành cứng nhắc các chỉ tiêu ban đầu hoặc tập trung quá mức vào kết quả đầu ra. Nếu hội đồng đánh giá quá đặt nặng vào kế hoạch chi tiết và yêu cầu kết quả đúng như cam kết ban đầu, sẽ vô tình tạo ra rào cản đối với đổi mới sáng tạo.

Thầy Vũ nhấn mạnh: “Trong bối cảnh đang thay đổi chính sách theo hướng chấp nhận rủi ro, việc thay đổi tư duy của các hội đồng đánh giá là rất quan trọng, để không làm triệt tiêu động lực nghiên cứu và sáng tạo của nghiên cứu sinh”.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Vũ cũng cho hay, để đáp ứng yêu cầu cao của chương trình, nghiên cứu sinh buộc phải nỗ lực ở mức độ rất lớn, với định hướng rõ ràng ngay từ đầu.

Trước hết, nghiên cứu sinh cần xác định mục tiêu nghiên cứu ở chuẩn mực quốc tế, hướng tới việc tạo ra những kết quả có khả năng cạnh tranh với các giải pháp tiên tiến của các trường đại học và viện nghiên cứu hàng đầu trên thế giới. Điều này đòi hỏi không chỉ năng lực chuyên môn mà còn tư duy nghiên cứu nghiêm túc, bài bản.

Nghiên cứu sinh cũng cần dành toàn bộ thời gian cho hoạt động nghiên cứu. Bên cạnh đó, vai trò của môi trường nghiên cứu và mạng lưới hợp tác là yếu tố then chốt. Nghiên cứu sinh cần làm việc trong các nhóm nghiên cứu mạnh, có sự hướng dẫn sát sao của giảng viên trong và ngoài nước, đồng thời chủ động kết nối với cộng đồng khoa học rộng hơn, cả trong và ngoài nước.

Việc tăng cường giao lưu học thuật quốc tế cũng là rất cần thiết. Tham gia hội thảo, công bố nghiên cứu và đóng góp vào cộng đồng khoa học sẽ giúp nghiên cứu sinh tiếp cận các ý tưởng mới, công nghệ tiên tiến, từ đó tạo ra những đột phá trong nghiên cứu. Như vậy, ba yếu tố gồm định hướng chuẩn quốc tế, làm việc toàn thời gian và hợp tác trong môi trường nghiên cứu mạnh sẽ là nền tảng để nghiên cứu sinh đạt được kết quả thực chất.

Hồng Linh