Kiểm định theo chuẩn chung đã đủ để chương trình đào tạo Y khoa của Việt Nam hội nhập quốc tế?

12/02/2026 06:22
Doãn Nhàn
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Theo chuyên gia, chúng ta không thể hội nhập giáo dục y khoa và di chuyển nhân lực y tế nếu thiếu các tổ chức kiểm định CTĐT đạt chuẩn quốc tế như WFME.

Cả nước hiện có hơn 30 cơ sở đào tạo bác sĩ y khoa, song đến hết năm 2025, mới chỉ khoảng 18 chương trình được kiểm định chất lượng theo các bộ tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và AUN-QA.

Dù đã góp phần thiết lập những ngưỡng bảo đảm chất lượng tối thiểu, đây vẫn là các khung kiểm định áp dụng chung cho mọi lĩnh vực đào tạo. Trong bối cảnh y khoa là ngành đặc thù, có yêu cầu cao về chuẩn đầu ra và năng lực hành nghề, câu hỏi đặt ra là: liệu kiểm định theo tiêu chuẩn chung đã đủ để giáo dục y khoa Việt Nam hội nhập quốc tế một cách thực chất?

Kiểm định theo chuẩn chung chưa phản ánh đầy đủ đặc thù y khoa

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Kim Bảo Giang - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội. Ảnh: HMU
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Kim Bảo Giang - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội. Ảnh: HMU

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Kim Bảo Giang - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội cho rằng, cần nhìn nhận một cách đầy đủ cả những mặt đạt được và những giới hạn của hệ thống tiêu chuẩn kiểm định hiện hành.

Theo Phó Giáo sư Kim Bảo Giang, bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và đang áp dụng hiện nay đã có nhiều cải tiến, được cập nhật phù hợp với bối cảnh giáo dục trong nước và xu hướng quốc tế. Các tiêu chuẩn này tiệm cận khá gần với bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo của AUN-QA phiên bản cập nhật, qua đó cho phép đánh giá tương đối toàn diện các khía cạnh liên quan đến bảo đảm chất lượng của chương trình đào tạo.

Tuy nhiên, đào tạo y khoa là lĩnh vực có tính đặc thù cao, trong đó yêu cầu về năng lực thực hành nghề nghiệp cần được cụ thể hóa rõ ràng thông qua chuẩn đầu ra gắn với các nhóm năng lực hành nghề. Điều này kéo theo những yêu cầu đặc thù về đội ngũ giảng viên, phương pháp dạy học, cách thức đánh giá, cơ sở vật chất cũng như môi trường thực hành lâm sàng.

Cụ thể, đối với yếu tố con người, giảng viên tham gia đào tạo y khoa không chỉ cần đáp ứng yêu cầu về trình độ học thuật, năng lực nghiên cứu và bằng cấp chuyên môn, mà còn phải có kinh nghiệm thực hành lâm sàng và khả năng làm việc trong môi trường có sự tương tác đa chiều với đồng nghiệp, người bệnh và người nhà người bệnh.

Về điều kiện đào tạo, ngoài cơ sở vật chất và trang thiết bị chuyên môn thông thường, chương trình đào tạo y khoa còn đòi hỏi môi trường thực hành tiền lâm sàng với mức đầu tư lớn, cũng như môi trường thực hành lâm sàng đa dạng, có người bệnh thật, quy trình chuyên môn - kỹ thuật chuẩn hóa và tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc an toàn người bệnh. Trong quá trình đó, bên cạnh vai trò của người thầy là giảng viên và nhân viên kỹ thuật được đào tạo bài bản, người bệnh cũng được xem là một “người thầy” đặc biệt trong đào tạo y khoa.

Theo Phó Giáo sư Kim Bảo Giang, trong quá trình đánh giá ngoài các chương trình đào tạo y khoa, các đoàn đánh giá thường có sự tham gia của chuyên gia y tế để xem xét mức độ đáp ứng của chương trình đối với chuẩn đầu ra, nội dung đào tạo, nguồn lực và môi trường y khoa. Tuy nhiên, việc chưa có một bộ tiêu chuẩn kiểm định chuyên biệt cho lĩnh vực này khiến chuyên gia đánh giá gặp khó khăn trong việc xác định cụ thể các nội dung cần đối chiếu, đồng thời dễ dẫn tới sự thiếu thống nhất trong cách tiếp cận và mức độ xem xét giữa các chuyên gia có kinh nghiệm và trình độ khác nhau trong giáo dục y khoa.

“Khi các yêu cầu chưa được cụ thể hóa, kết quả kiểm định sẽ khó phát huy đầy đủ ý nghĩa trong việc xác định chất lượng chương trình đào tạo, cũng như trong việc chỉ ra một cách sắc nét các điểm mạnh, hạn chế và đưa ra khuyến nghị cải tiến chất lượng”, cô Giang nhấn mạnh.

img-6816.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Huỳnh Thị Vũ Quỳnh - Trưởng phòng Đảm bảo chất lượng giáo dục và Khảo thí, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Bệnh viện Nhi đồng 2

Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Huỳnh Thị Vũ Quỳnh - Trưởng phòng Đảm bảo chất lượng giáo dục và Khảo thí, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cũng cho rằng, việc Việt Nam hiện nay áp dụng bộ tiêu chuẩn kiểm định chương trình đào tạo dùng chung cho tất cả các ngành có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm và nâng cao chất lượng giáo dục đại học nói chung. Tuy nhiên, với lĩnh vực đào tạo y khoa, cách tiếp cận này trên thực tế vẫn bộc lộ những khoảng trống và hạn chế nhất định.

Phân tích cụ thể, Phó Giáo sư Quỳnh chỉ ra rằng, đào tạo y khoa là lĩnh vực có tính đặc thù rất cao, được thiết kế dựa trên chuẩn năng lực nghề nghiệp, có thời lượng thực hành lâm sàng lớn, gắn chặt với môi trường bệnh viện và đặc biệt liên quan trực tiếp đến an toàn người bệnh. Trong khi đó, các bộ tiêu chuẩn kiểm định chung hiện nay chưa phản ánh đầy đủ những yêu cầu cốt lõi này, nhất là các tiêu chí liên quan đến năng lực lâm sàng, cơ chế giám sát thực hành, trách nhiệm nghề nghiệp và đạo đức y khoa.

Không chỉ dừng ở yêu cầu chuyên môn, việc chưa có tiêu chuẩn kiểm định chuyên biệt cho đào tạo y khoa còn khiến chất lượng đào tạo giữa các cơ sở khó được đặt lên cùng một hệ quy chiếu để so sánh. “Điều này thể hiện rõ ở các nội dung như chuẩn đầu ra theo năng lực, mức độ đáp ứng của hệ thống cơ sở thực hành lâm sàng, cũng như năng lực và vai trò của đội ngũ giảng viên đang trực tiếp tham gia đào tạo tại bệnh viện”, Phó Giáo sư Quỳnh nhấn mạnh.

Ở góc độ bảo đảm chất lượng, Trưởng phòng Đảm bảo chất lượng giáo dục và Khảo thí, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, khi thiếu bộ tiêu chuẩn riêng cho y khoa, hệ thống bảo đảm chất lượng dễ có xu hướng thiên về đánh giá các điều kiện đầu vào như cơ sở vật chất hay tổ chức quản lý, thay vì đánh giá năng lực hành nghề thực sự của người học. Trong khi đó, mục tiêu cốt lõi của đào tạo bác sĩ, theo cô, là đào tạo ra những người có khả năng hành nghề độc lập, an toàn và hiệu quả cho cộng đồng.

“Khoảng trống lớn nhất hiện nay chính là việc chưa có bộ tiêu chuẩn kiểm định mang tính đặc thù cho y khoa, đủ “độ nhạy chuyên môn” để phản ánh đúng chất lượng thực chất của đào tạo bác sĩ”, Phó Giáo sư Huỳnh Thị Vũ Quỳnh khẳng định.

Kiểm định theo chuẩn quốc tế mở đường hội nhập cho giáo dục y khoa Việt Nam

Sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội trong ngày thi tốt nghiệp. Ảnh: HMU
Sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội trong ngày thi tốt nghiệp. Ảnh: HMU

Trả lời câu hỏi về điều kiện để văn bằng bác sĩ Việt Nam được công nhận rộng rãi trên bình diện quốc tế, Phó Giáo sư Kim Bảo Giang cho rằng, yếu tố then chốt là việc hình thành các tổ chức kiểm định chương trình đào tạo y khoa được Liên đoàn Giáo dục Y khoa Thế giới (WFME) hoặc các tổ chức kiểm định y khoa quốc tế tương đương công nhận, đủ năng lực đánh giá chất lượng các chương trình đào tạo y khoa trong nước.

Theo Phó Giáo sư Kim Bảo Giang, khi các chương trình đào tạo y khoa tại Việt Nam được đánh giá và công nhận đạt chuẩn chất lượng của WFME thông qua các tổ chức kiểm định được WFME công nhận, giá trị tương đương của chương trình đào tạo sẽ có cơ sở để được các cơ sở giáo dục y khoa trên thế giới xem xét, công nhận.

Không chỉ góp phần nâng cao mức độ công nhận quốc tế của chương trình đào tạo, kiểm định theo các chuẩn mực của WFME còn trực tiếp mở rộng cơ hội học tập và hành nghề cho người học. Sinh viên tốt nghiệp từ các chương trình được kiểm định theo chuẩn WFME (hoặc chuẩn tương đương) sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc được công nhận văn bằng để học chuyển tiếp ở các bậc đào tạo cao hơn tại các cơ sở giáo dục y khoa quốc tế, cũng như được xem xét tham gia các kỳ thi cấp chứng chỉ hoặc giấy phép hành nghề tại một số quốc gia.

Phó Giáo sư Kim Bảo Giang nhấn mạnh, hệ thống tiêu chuẩn và tiêu chí của WFME đặt trọng tâm vào chuẩn đầu ra gắn với năng lực thực hành lâm sàng, mức độ thành thạo kỹ năng nghề nghiệp và năng lực bảo đảm an toàn người bệnh. “WFME yêu cầu chương trình đào tạo phải chứng minh được chất lượng đào tạo lâm sàng thực chất, chứ không chỉ dừng lại ở cấu trúc chương trình hay hệ thống hồ sơ”, cô Giang nói.

Từ đó, Phó Giáo sư Kim Bảo Giang cho rằng, giáo dục y khoa Việt Nam khó có thể hội nhập sâu rộng và thúc đẩy di chuyển nhân lực y tế nếu thiếu các tổ chức kiểm định chương trình đào tạo y khoa được WFME hoặc các tổ chức kiểm định y khoa quốc tế tương đương công nhận.

Hoạt động khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho người dân khó khăn tại xã Núa Ngam, tỉnh Điện Biên do Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí MInh, phối hợp cùng Trường Đại học Y Hà Nội, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, Trường Đại học Y tế công cộng và Quỹ hỗ trợ cộng đồng Đinh Thiện Lý thực hiện, tháng 1/2026. Ảnh minh hoạ: UMP
Hoạt động khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho người dân khó khăn tại xã Núa Ngam, tỉnh Điện Biên do Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí MInh, phối hợp cùng Trường Đại học Y Hà Nội, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, Trường Đại học Y tế công cộng và Quỹ hỗ trợ cộng đồng Đinh Thiện Lý thực hiện, tháng 1/2026. Ảnh minh hoạ: UMP

Chia sẻ thêm góc nhìn thực tiễn, Phó Giáo sư Huỳnh Thị Vũ Quỳnh cho biết, nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Philippines đã xây dựng bộ tiêu chuẩn kiểm định y khoa chuyên biệt và thành lập cơ quan kiểm định được WFME công nhận. Thực tế này cho thấy, kiểm định y khoa theo chuẩn quốc tế không phải là xu hướng riêng lẻ, mà là xu hướng chung của khu vực và thế giới.

Phân tích ở bình diện quốc tế, Phó Giáo sư Huỳnh Thị Vũ Quỳnh cho rằng, việc văn bằng bác sĩ được công nhận rộng rãi không chỉ phụ thuộc vào chương trình đào tạo của từng cơ sở, mà còn phụ thuộc rất lớn vào hệ thống kiểm định quốc gia. Do đó, việc xây dựng bộ tiêu chuẩn kiểm định chuyên biệt cho y khoa, đồng thời hình thành tổ chức kiểm định y khoa được WFME công nhận, sẽ mang lại nhiều lợi ích rõ rệt cho hệ thống đào tạo trong nước.

Cụ thể, trước hết, hệ thống kiểm định chuyên biệt giúp các chương trình đào tạo y khoa tại Việt Nam tiệm cận các chuẩn mực toàn cầu, từ cấu trúc chương trình, phương pháp đào tạo dựa trên năng lực, đến cách thức đánh giá năng lực lâm sàng và đạo đức nghề nghiệp.

Bên cạnh đó, việc được kiểm định theo các chuẩn mực được WFME thừa nhận còn mở rộng cơ hội di chuyển học thuật và hành nghề quốc tế cho bác sĩ Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế yêu cầu chương trình đào tạo phải được kiểm định bởi tổ chức kiểm định được WFME công nhận.

Không dừng lại ở yêu cầu hội nhập, Phó Giáo sư Huỳnh Thị Vũ Quỳnh nhấn mạnh, kiểm định y khoa theo chuẩn chuyên biệt còn là động lực thúc đẩy thúc đẩy các cơ sở đào tạo y khoa trong nước đổi mới một cách thực chất, không chỉ nhằm đạt yêu cầu kiểm định, mà hướng đến nâng cao chất lượng đào tạo gắn với an toàn người bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng.

Về dài hạn, theo Phó Giáo sư Huỳnh Thị Vũ Quỳnh việc phát triển hệ thống kiểm định y khoa chuyên biệt không chỉ phục vụ mục tiêu hội nhập quốc tế, mà còn là đòn bẩy quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế quốc gia, qua đó củng cố niềm tin của xã hội đối với đội ngũ thầy thuốc được đào tạo trong nước.

Muốn đạt chuẩn WFME, trường y phải đầu tư từ con người đến môi trường đào tạo

Để triển khai kiểm định chương trình đào tạo y khoa theo các chuẩn chuyên biệt, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội cho rằng, từ góc độ các cơ sở đào tạo, điều quan trọng trước hết là mỗi trường cần xây dựng lộ trình chuẩn bị bài bản, đi kèm với những đầu tư mang tính căn cơ, nhằm nâng tầm chất lượng chương trình đào tạo một cách thực chất.

Theo Phó Giáo sư Kim Bảo Giang, các tiêu chuẩn của WFME đặt trọng tâm vào việc đạt được chuẩn đầu ra dưới dạng các năng lực lâm sàng trong môi trường thực hành nghề nghiệp thực tế. Điều này đòi hỏi các trường y dược phải đặc biệt chú trọng phát triển đội ngũ giảng viên và cán bộ hỗ trợ có trình độ chuyên môn sâu, kinh nghiệm hành nghề trực tiếp, đồng thời đáp ứng các năng lực nghề nghiệp cốt lõi như tự học, cải tiến liên tục, giao tiếp hiệu quả và thực hành y khoa dựa trên hệ thống.

Không chỉ dừng ở năng lực chuyên môn, đội ngũ tham gia giảng dạy và hỗ trợ đào tạo y khoa còn cần được trang bị các kỹ năng sư phạm và đánh giá mang tính đặc thù của lĩnh vực y khoa. “Đó là các kỹ năng xây dựng và tổ chức đánh giá theo hình thức thi chạy trạm (OSCE), đánh giá thông qua các thủ thuật y khoa, thảo luận ca lâm sàng…, thay vì chỉ dựa vào các hình thức kiểm tra truyền thống”, cô Giang phân tích.

Bên cạnh yếu tố con người, Phó Giáo sư Kim Bảo Giang nhấn mạnh vai trò của điều kiện bảo đảm chất lượng về cơ sở vật chất và môi trường đào tạo. Theo đó, các cơ sở đào tạo cần đầu tư đồng bộ hệ thống phòng thực hành, phòng tiền lâm sàng, bệnh viện thực hành đạt chuẩn, cùng với hệ thống quản trị khoa học, hiệu quả và hiện đại, đáp ứng yêu cầu tổ chức đào tạo trong một mô hình dạy học tích hợp giữa giảng đường - phòng thí nghiệm - bệnh viện - cộng đồng.

“Hệ thống theo dõi, cải thiện chất lượng cũng cần xây dựng trong mối quan hệ dạy học phức tạp này của các chương trình đào tạo y khoa”, Phó Giáo sư Kim Bảo Giang nhấn mạnh.

Doãn Nhàn