Quyết định số 2230/QĐ-TTg ngày 9/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2045 nêu mục tiêu cụ thể giai đoạn 2025 - 2030 là đào tạo ít nhất 35.000 nhân lực, tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu triển khai các dự án đường sắt tốc độ cao, đường sắt điện khí hóa, đường sắt đô thị và bổ sung nguồn nhân lực giảng dạy cho các cơ sở đào tạo.

Để đạt được mục tiêu này, nhiều cơ sở giáo dục đại học đã và đang triển khai các hình thức đào tạo linh hoạt, kết hợp giữa dài hạn và ngắn hạn nhằm đáp ứng cả nhu cầu trước mắt và lâu dài của thị trường.

unnamed.jpg
Ảnh minh họa được tạo bởi AI

Yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao trở nên cấp thiết

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Mai Thanh Phong - Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) nhận định, kết luận số 49-KL/TW ngày 28/2/2023 của Bộ Chính trị về định hướng phát triển giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã xác định mục tiêu tổng quát: Phát triển giao thông vận tải đường sắt hiện đại, đồng bộ nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững. Vận tải đường sắt đóng vai trò chủ đạo trên hành lang kinh tế Bắc - Nam, các hành lang vận tải chính Đông - Tây và vận tải hành khách tại các đô thị lớn.

Có thể thấy, hạ tầng đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao đang bước vào giai đoạn chuẩn bị với những kế hoạch cụ thể và quy mô lớn. Trong bối cảnh đó, yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao trở nên cấp thiết.

Trong khi đó, hệ thống đường sắt truyền thống chủ yếu sử dụng công nghệ cũ, từ điều khiển, đầu máy, toa xe đến mô hình vận hành không còn phù hợp với yêu cầu của các dự án hiện đại.

Đây cũng là lý do cơ sở đào tạo, trên nền tảng thế mạnh chuyên môn sẵn có, chủ động mở thêm một số ngành và chương trình đào tạo mới nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho giai đoạn phát triển sắp tới.

Bên cạnh đó, tại Quyết định số 2230/QĐ-TTg đặt mục tiêu đến 2030 đào tạo ít nhất 35.000 nhân lực, tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu triển khai các dự án đường sắt tốc độ cao, đường sắt điện khí hóa, đường sắt đô thị.

Để thực hiện hóa mục tiêu này, công tác đào tạo nhân lực phải được triển khai ngay từ bây giờ. Bởi đào tạo một kỹ sư không chỉ mất vài năm học tập chính quy, mà còn cần thời gian tích lũy kinh nghiệm thực tiễn trước khi có thể đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong vận hành và quản lý hệ thống.

Trước yêu cầu đó, Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) đã chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo theo hai loại hình, nhằm đáp ứng cả nhu cầu dài hạn và yêu cầu nhân lực trước mắt của thị trường.

Cụ thể, nhà trường triển khai các chương trình đào tạo ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cấp thiết của doanh nghiệp. Điển hình, trường đã phối hợp với Tổng công ty Xây dựng số 1 (CC1) thiết kế khóa đào tạo chuyên sâu kéo dài 3 tháng dành cho các kỹ sư đã có nền tảng chuyên môn, chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng công trình.

Chương trình tập trung nâng cao kiến thức và kỹ năng về hạ tầng đường sắt tốc độ cao với sự tham gia giảng dạy của các chuyên gia trong và ngoài trường, bảo đảm tính thực tiễn và cập nhật công nghệ mới.

Bên cạnh đào tạo ngắn hạn, nhà trường đã xây dựng 2 chương trình đào tạo kỹ sư chính quy bậc đại học liên quan đến Đường sắt tốc độ cao và Đường sắt đô thị. Một là tập trung vào lĩnh vực hạ tầng, bao gồm đường, cầu, công trình và kết cấu - thuộc khối ngành xây dựng. Hai là thuộc lĩnh vực kỹ thuật giao thông, liên quan đến đường ray, phương tiện, hệ thống điện, điều khiển và các công nghệ vận hành. Chương trình này đã hoàn tất các thủ tục phê duyệt theo quy định và dự kiến tuyển sinh từ năm 2026.

opjyadp-wznkudowe-mn1xz.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Mai Thanh Phong phát biểu tại Lễ khai giảng chương trình đào tạo chuyên sâu “Đường sắt tốc độ cao - Đường sắt đô thị”. Ảnh: website nhà trường

Thầy Phong chia sẻ: “Là cơ sở đào tạo kỹ thuật đa ngành, trường đã có sẵn kinh nghiệm đào tạo các lĩnh vực liên quan đến Đường sắt tốc độ cao như kỹ thuật xây dựng công trình giao thông, điều khiển - tự động hóa, điện - điện tử. Do đó, về đội ngũ giảng viên và nền tảng chuyên môn cơ bản, nhà trường có lợi thế tương đối toàn diện để phát triển chương trình mới.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay là nguồn chuyên gia chuyên sâu trong lĩnh vực đường sắt tốc độ cao còn hạn chế, do Việt Nam chưa có kinh nghiệm thực tiễn trong xây dựng và vận hành các công trình loại hình này. Đây là thách thức chung đối với các cơ sở đào tạo trong nước khi tiếp cận lĩnh vực công nghệ mới.

Để khắc phục, trường đã xây dựng kế hoạch tăng cường năng lực đội ngũ giảng viên. Trước hết là cử giảng viên tham gia các chương trình đào tạo, bồi dưỡng với đối tác trong và ngoài nước. Đồng thời, trường cũng đẩy mạnh hợp tác với doanh nghiệp và mời các chuyên gia tham gia giảng dạy, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn”.

Trong khi đó, Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Tiến Thành - Trưởng khoa, Khoa Công trình, Trường Đại học Giao thông Vận tải cho biết, trong nhiều thập kỷ qua, ngành đường sắt truyền thống nước ta không có nhiều thay đổi, cải tiến, thậm chí đang bị thu hẹp đáng kể về thị phần và sản lượng vận tải, chủ yếu do hạ tầng lạc hậu, xuống cấp nghiêm trọng sau hơn 100 năm sử dụng.

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong giai đoạn tới, việc phát triển hạ tầng được xác định phải đi trước một bước, tạo nền tảng cho sản xuất và các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác. Đầu tư vào đường sắt tốc độ cao vì vậy không chỉ là xây dựng một tuyến giao thông, mà hướng tới hình thành một hệ thống đường sắt hiện đại, đồng bộ trên phạm vi quốc gia.

Nghị quyết số 172/2024/QH15 ngày 30/11/2024 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, tạo cơ sở quan trọng cho việc phát triển hệ thống đường sắt hiện đại tại Việt Nam. Theo đó, dự án có tổng chiều dài tuyến khoảng 1.541 km, với sơ bộ tổng mức đầu tư của dự án là 1.713.548 tỷ đồng.

Ngoài ra, quy mô đầu tư vào hệ thống đường sắt khác thời gian tới cũng rất lớn, như: đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; các đường sắt đô thị Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh; các tuyến Lạng Sơn - Hà Nội, Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái;….

Những dự án này dự kiến sẽ tạo ra nhu cầu rất lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai gần. Khi hệ thống được triển khai đòi hỏi nhu cầu nhân lực ở tất cả các giai đoạn: từ xây dựng hạ tầng, lắp đặt thiết bị, đến khai thác vận hành và duy tu, bảo trì.

Đây không chỉ là nhu cầu lớn về số lượng mà còn yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao, bởi đường sắt tốc độ cao liên quan trực tiếp đến tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn và hiệu quả khai thác của toàn hệ thống.

Từ thực tế đó, Trường Đại học Giao thông Vận tải đã triển khai xây dựng chương trình đào tạo liên quan đến Đường sắt tốc độ cao.

Từ năm học 2025-2026 chương trình chính thức được đưa vào đề án tuyển sinh và nhà trường đã tuyển sinh được khóa đầu tiên. Đến nay, sinh viên theo học chương trình về Đường sắt tốc độ cao đã hoàn thành học kỳ I năm thứ nhất và đang tiếp tục chương trình đào tạo theo kế hoạch.

Do Việt Nam hiện chưa có hệ thống đường sắt tốc độ cao, để xây dựng chương trình đào tạo trong lĩnh vực này, nhà trường phải tiếp cận theo hướng tham khảo, kế thừa và chọn lọc từ kinh nghiệm quốc tế.

Nhà trường đã nghiên cứu các chương trình đào tạo tại những quốc gia phát triển mạnh về đường sắt tốc độ cao như Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp,... đồng thời mời chuyên gia tư vấn, biên dịch tài liệu và tiếp cận các tiêu chuẩn kỹ thuật nước ngoài.

Cùng với đó, trường phát huy lợi thế có đội ngũ giảng viên được đào tạo bài bản ở nước ngoài, có nền tảng chuyên môn vững chắc trong lĩnh vực giao thông. Với năng lực chuyên môn sẵn có, giảng viên tập trung xây dựng và hoàn thiện chương trình đào tạo theo hướng hiện đại, tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế.

image.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Tiến Thành - Trưởng khoa, Khoa Công trình, Trường Đại học Giao thông Vận tải. Ảnh: Trà My

Mặt khác, hiện nay, doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng công trình giao thông nói chung và đường sắt nói riêng đều đang thiếu hụt nhân sự. Nhiều doanh nghiệp chủ động tìm đến cơ sở đào tạo để liên kết tuyển dụng, thậm chí tổ chức đào tạo lại đội ngũ kỹ sư của doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu dự án. Đồng thời, doanh nghiệp triển khai nhiều chính sách hỗ trợ như thực tập, thực hành có hưởng lương, tạo điều kiện cho sinh viên tham gia thực tế tại công trường.

Từ đó, Trường Đại học Giao thông Vận tải triển khai nhiều hình thức đào tạo linh hoạt nhằm bổ sung nguồn nhân lực cho thị trường. Một trong những mô hình hiệu quả là chương trình văn bằng hai dành cho những người đã tốt nghiệp đại học ở các lĩnh vực gần như kết cấu giao thông, nền móng, cầu đường bộ… và có nhu cầu chuyển sang lĩnh vực Đường sắt tốc độ cao. Người học có thể đăng ký học trực tiếp hoặc từ xa, phù hợp với người đang đi làm và cần chủ động về thời gian.

Trường cũng thường xuyên phối hợp với doanh nghiệp tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn, chuyên đề. Chương trình kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, trong đó người học được tham quan, khảo sát công trường và doanh nghiệp tại một số quốc gia có hệ thống đường sắt tốc độ cao phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Sau quá trình học tập, người học cùng giảng viên và chuyên gia tổng kết, đánh giá, hoàn thiện kiến thức và kỹ năng.

Hoạt động đào tạo lại, đào tạo liên tục theo hướng học tập suốt đời của trường đang được đẩy mạnh, góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực trước mắt và lâu dài của lĩnh vực Đường sắt tốc độ cao.

Sinh viên cần có nền tảng kỹ thuật, biết sử dụng ngoại ngữ để tiếp cận tài liệu quốc tế

Theo Trưởng khoa, Khoa Công trình, Trường Đại học Giao thông Vận tải, chương trình Đường sắt tốc độ cao hiện có mức điểm đầu vào thuộc nhóm cao của trường. Điều này cho thấy sức hút và chất lượng tuyển sinh của chương trình ngay từ những khóa đầu tiên.

Trong thời gian tới, nhà trường dự kiến từng bước điều chỉnh, tăng chỉ tiêu và mở rộng quy mô tuyển sinh, nhằm tạo điều kiện cho nhiều thí sinh có năng lực và đam mê kỹ thuật được tiếp cận chương trình. Tuy nhiên, việc đào tạo phụ thuộc vào nhiều điều kiện bảo đảm chất lượng như đội ngũ giảng viên, hệ thống phòng thí nghiệm, cơ sở vật chất và các nguồn lực hỗ trợ sinh viên.

Trước nhu cầu nhân lực ngày càng lớn của xã hội, nhà trường tăng cường đầu tư và bố trí nguồn lực phù hợp cho chương trình Đường sắt tốc độ cao. Vì vậy, việc mở rộng quy mô phải gắn chặt với các tiêu chí bảo đảm chất lượng, không thể phát triển theo hướng ồ ạt. Nhà trường xác định sẽ điều chỉnh, nâng chỉ tiêu trong khả năng cho phép, vừa đáp ứng nhu cầu xã hội, vừa bảo đảm chất lượng đào tạo.

z7566120547051-8147c99a3a42f7619870b8465e9b736a.jpg
Đoàn công tác Trường Đại học Giao thông Vận tải trong chương trình thực tập, thực tế Đường sắt tốc độ cao tại Trung Quốc. Ảnh: NVCC

Giáo sư Bùi Tiến Thành cho rằng, ngành Đường sắt trong đó có Đường sắt tốc độ cao thuộc nhóm ngành kỹ thuật, đào tạo kỹ sư. Bản chất của nghề kỹ sư là giải quyết các vấn đề kỹ thuật phát sinh trong thực tiễn đời sống và sản xuất. Vì vậy, người học ngành này trước hết cần có sự chăm chỉ, tinh thần trách nhiệm và đặc biệt là tư duy logic, sự tò mò, ham tìm hiểu, sáng tạo trong tiếp cận và xử lý vấn đề.

Trên nền tảng những tố chất đó, sinh viên sẽ được trang bị hệ thống kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, phương pháp và công cụ làm việc thông qua chương trình đào tạo bài bản.

Đường sắt tốc độ cao vận hành ở dải tốc độ vượt quá giới hạn phản xạ sinh học của con người, do đó hệ thống thông tin, tín hiệu và an toàn bắt buộc phải đáp ứng các tiêu chuẩn tự động hóa nghiêm ngặt nhất. Đồng thời, trước tác động của động năng lớn, yêu cầu đối với kết cấu hạ tầng như nền đường, cầu, ray không chỉ dừng ở khả năng chịu lực, mà quan trọng hơn là kiểm soát chặt chẽ trạng thái giới hạn sử dụng, bao gồm vi biến dạng, chuyển vị và độ lún tối đa trong cả ngắn hạn và dài hạn.

Đặc biệt, việc tiếp cận, học hỏi và chuyển giao công nghệ từ các quốc gia đi trước trong lĩnh vực Đường sắt tốc độ cao là yêu cầu tất yếu. Phần lớn tài liệu chuyên ngành, tiêu chuẩn kỹ thuật và thông tin về các dự án đường sắt tốc độ cao trên thế giới đều bằng tiếng Anh. Do đó, sinh viên cần coi tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai để học tập, tra cứu, nghiên cứu và cập nhật công nghệ mới.

Những sinh viên có nền tảng ngoại ngữ tốt sẽ có lợi thế rõ rệt trong việc tiếp cận tri thức quốc tế, nắm bắt công nghệ nhanh hơn và mở rộng cơ hội nghề nghiệp. Khi làm chủ được tài liệu và xu hướng kỹ thuật toàn cầu, khả năng thích ứng với yêu cầu của doanh nghiệp cũng cao hơn.

“Sinh viên không nhất thiết phải thành thạo tiếng Anh ngay từ đầu, bởi trong quá trình học tập sẽ có các chương trình hỗ trợ. Tuy nhiên, việc chuẩn bị sớm và chủ động rèn luyện ngoại ngữ sẽ giúp người học rút ngắn khoảng cách tiếp cận công nghệ và tăng khả năng hội nhập ngay khi còn trên ghế nhà trường”, thầy Thành nhấn mạnh.

Vị giáo sư cho biết thêm, nhu cầu lớn từ thị trường lao động là yếu tố quan trọng tác động đến mức thu nhập của kỹ sư trong lĩnh vực Đường sắt tốc độ cao. Mức lương cụ thể phụ thuộc vào khả năng chi trả của doanh nghiệp, song trong bối cảnh nguồn nhân lực còn thiếu, chế độ đãi ngộ nhìn chung có xu hướng cạnh tranh hơn.

8d9ra9cqxzqecx3mebvuw-t6.jpg
Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) và Tổng công ty Xây dựng số 1 (CC1) hợp tác xây dựng chương trình đào tạo ngắn hạn Đường sắt tốc độ cao. Ảnh: website nhà trường

Về phía Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), Giáo sư Mai Thanh Phong cho biết, để theo học chương trình về Đường sắt tốc độ cao, người học cần có những tố chất đặc trưng của khối ngành kỹ thuật.

Trước hết, năng lực nổi trội về toán học là yếu tố quan trọng. Khối ngành kỹ thuật đòi hỏi tư duy logic, khả năng phân tích, tính toán và xử lý các bài toán kỹ thuật phức tạp. Vì vậy, những thí sinh có nền tảng toán tốt sẽ có lợi thế trong quá trình học tập và nghiên cứu. Bên cạnh đó, sinh viên cần có tính kiên trì, cẩn trọng và tinh thần sẵn sàng giải quyết các vấn đề kỹ thuật thực tiễn.

Cùng với đó, trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng mang tính quốc tế hóa và toàn cầu hóa, năng lực tiếng Anh trở thành yêu cầu thiết yếu đối với sinh viên ở hầu hết các ngành đào tạo, không riêng lĩnh vực kỹ thuật. Bên cạnh đó, nguồn học liệu, tài liệu chuyên môn về Đường sắt tốc độ cao bằng tiếng Anh hiện rất phong phú, đòi hỏi người học phải có khả năng sử dụng ngoại ngữ để tiếp cận và cập nhật kiến thức.

Hồng Mai