Thông tư số 30/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông được ban hành với các tiêu chuẩn cụ thể về trình độ đào tạo, bồi dưỡng, năng lực chuyên môn và nhiệm vụ theo từng hạng I, II, III của giáo viên phổ thông.

Theo một số lãnh đạo cơ sở giáo dục phổ thông chia sẻ, các tiêu chuẩn và nhiệm vụ đặt ra sẽ góp phần tạo động lực để đội ngũ nhà giáo không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, khẳng định vị thế nghề nghiệp. Tuy nhiên, từ thực tiễn hoạt động, có một số tiêu chuẩn mà những giáo viên không kiêm nhiệm chức vụ, thậm chí kiêm nhiệm chức vụ cũng khó có thể được phân công, hoặc có cơ hội đảm nhận các nhiệm vụ theo quy định.

Tiêu chuẩn và nhiệm vụ đã rõ, nhưng cơ hội để giáo viên thực hiện không nhiều

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, trước các quy định về tiêu chuẩn, nhiệm vụ của giáo viên theo hạng chức danh nghề nghiệp nêu trong Thông tư 30, cô Lê Minh Nguyệt - Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Lê Lợi (phường Hà Đông, thành phố Hà Nội) nêu quan điểm: “Hiện nay các chính sách, quy định về lương và xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp đã có những cải thiện nhất định, góp phần nâng cao vị thế và động lực nghề nghiệp của giáo viên.

Đồng thời, trong bối cảnh ngành giáo dục đang thực hiện đổi mới, việc gắn hạng chức danh nghề nghiệp với quá trình phấn đấu, tích lũy thành tích và năng lực chuyên môn sẽ vừa tạo động lực, vừa góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ.

Vì vậy, hệ thống tiêu chuẩn, nhiệm vụ theo các hạng I, II, III đối với giáo viên phổ thông nêu trong Thông tư về cơ bản là hợp lý. Các quy định này không chỉ khuyến khích để giáo viên chủ động phấn đấu, nâng cao năng lực, mà còn là căn cứ cụ thể, minh bạch để đánh giá trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của đội ngũ”.

z7656924174817-1f70cec074bbf5ea25e5f105814604ae-8155.jpg
Cô Lê Minh Nguyệt - Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Lê Lợi (phường Hà Đông, thành phố Hà Nội). Ảnh: website nhà trường.

Cũng theo cô Nguyệt, nếu như trước đây giáo viên chủ yếu phải tham gia các kỳ thi để được thăng hạng, thì hiện nay việc xét thăng hạng chuyển sang dựa trên việc đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định. Điều này đòi hỏi giáo viên phải có quá trình tích lũy, chuẩn bị một cách bài bản và lâu dài.

Bên cạnh đó, sau khi được bổ nhiệm vào các hạng cao hơn như hạng II hoặc hạng I, giáo viên cũng cần tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ tương ứng để khẳng định năng lực chuyên môn và vai trò nổi bật của mình trong hoạt động giảng dạy và phát triển chuyên môn tại nhà trường.

Cùng bàn về nội dung này, cô Lê Thị Kim Dung - Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Nguyễn Đức Lượng (xã Dân Hòa, thành phố Hà Nội) chia sẻ, một số tiêu chuẩn và nhiệm vụ yêu cầu nêu ra giáo viên khó có thể đảm bảo đối với những người không kiêm nhiệm chức vụ trong nhà trường.

Trong đó, có nhiều nhiệm vụ rất khó, thường phải giữ chức vụ trong đội ngũ ban giám hiệu, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn mới đảm nhận như làm báo cáo viên hoặc dạy minh họa ở các lớp bồi dưỡng giáo viên hoặc dạy thử nghiệm các mô hình, phương pháp, công nghệ mới từ cấp trường trở lên; chủ trì các nội dung bồi dưỡng và sinh hoạt chuyên đề ở tổ chuyên môn hoặc tham gia xây dựng học liệu điện tử.

Cùng với đó là tham gia hướng dẫn hoặc đánh giá các sản phẩm nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từ cấp trường trở lên; tham gia ban giám khảo hoặc ban ra đề hoặc người hướng dẫn trong các hội thi, kỳ thi của giáo viên hoặc học sinh do ngành Giáo dục chủ trì hoặc phối hợp tổ chức từ cấp xã trở lên.

Cô Dung chia sẻ thêm: “Theo Thông tư 30, đối với giáo viên hạng II ở các cấp học cần đảm bảo yêu cầu được công nhận là chiến sĩ thi đua cơ sở; hoặc được nhận bằng khen, giấy khen từ cấp cơ sở trở lên; hoặc được công nhận đạt một trong các danh hiệu giáo viên dạy giỏi, giáo viên chủ nhiệm lớp giỏi từ cấp trường trở lên.

Song, trên thực tế của nhà trường hiện nay, để đạt được danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở cũng không phải dễ dàng đối với giáo viên, bởi chỉ tiêu xét danh hiệu này có giới hạn. Nhà trường cũng cần cân nhắc lựa chọn trong phạm vi chỉ tiêu theo quy định, do đó, dù nhiều giáo viên có năng lực và thành tích tốt nhưng vẫn chưa chắc đã được công nhận”.

Trong khi đó, theo cô Nguyễn Thị Hòa - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Nguyễn Văn Huyên (phường An Tường, tỉnh Tuyên Quang) đánh giá: “Về các tiêu chuẩn, nhiệm vụ đối với giáo viên hạng II, nhìn chung đa số giáo viên đều có năng lực để có thể đáp ứng yêu cầu đặt ra.

Bởi đối với thầy cô đã được bổ nhiệm giáo viên hạng II, phần lớn là những người đã có kinh nghiệm, chuyên môn vững vàng, có năng lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp với môn học. Đồng thời, thầy cô cũng tham gia tích cực vào các hoạt động chuyên môn như hướng dẫn được học sinh tham gia hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; hoặc tham gia đánh giá sản phẩm nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của học sinh trung học phổ thông từ cấp trường trở lên.

Tuy nhiên, trên thực tế, không phải tất cả giáo viên đều có cơ hội tham gia đồng đều các hoạt động và nhiệm vụ này, dẫn đến sự khác biệt nhất định trong quá trình đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo quy định”.

Mặt khác, ở cấp trung học phổ thông, giáo viên hạng I còn phải đáp ứng thêm các tiêu chuẩn mang tính dẫn dắt, như hỗ trợ đồng nghiệp, tham gia các hội thi chuyên môn, cũng như tham gia biên soạn, phát triển chương trình và tài liệu phục vụ bồi dưỡng giáo viên.

Theo cô Hòa đánh giá: “Trên thực tế, mặc dù giáo viên hạng I có đủ năng lực để đảm đương các nhiệm vụ này, nhưng cơ hội để thực hiện lại không nhiều, kể cả với tổ trưởng chuyên môn hay thành viên ban giám hiệu. Nguyên nhân là bởi hầu như các hoạt động như xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu thuộc thẩm quyền của sở giáo dục và đào tạo. Do đó, việc giáo viên trực tiếp tham gia vào quá trình biên soạn tài liệu phục vụ bồi dưỡng giáo viên hiện nay là khá hiếm”.

499875939-726185843092371-1652350172660526268-n.jpg
Cô Nguyễn Thị Hòa - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Nguyễn Văn Huyên (phường An Tường, tỉnh Tuyên Quang). Ảnh: website nhà trường.

Giáo viên muốn xét thăng hạng vẫn phải “xếp hàng” chờ chỉ tiêu

Chia sẻ về công tác thực hiện rà soát và xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên tại trường hiện nay, cô Nguyễn Thị Hòa thông tin, Trường Trung học phổ thông Nguyễn Văn Huyên hiện có 50% giáo viên hạng II, không có giáo viên hạng I. Năm nay, nhà trường có 2 giáo viên đang đề nghị xét thăng hạng từ hạng II lên hạng I.

Cô Hòa cho biết thêm, nhà trường thực hiện xét thăng hạng giáo viên theo Thông tư 13/2024/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về quy định tiêu chuẩn, điều kiện xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non, phổ thông công lập và giáo viên dự bị đại học.

“Về cơ bản, quá trình lập hồ sơ xét thăng hạng không gặp nhiều khó khăn do hệ thống tiêu chí khá đầy đủ về năng lực, trình độ và quá trình cống hiến của giáo viên. Nhưng bên cạnh đó, cơ chế phân bổ chỉ tiêu và cơ cấu đội ngũ do địa phương giao đang giới hạn tỷ lệ giáo viên được xếp hạng II hoặc hạng I trong mỗi trường.

Do giới hạn về chỉ tiêu nên nhiều giáo viên của trường hiện đã đủ tiêu chuẩn nhưng vẫn phải chờ đợi để được xét thăng hạng từ giáo viên hạng III lên hạng II”, cô Hòa cho hay.

Theo Công văn số 64/BNV-CCVC ngày 5/1/2024 của Bộ Nội vụ về hướng dẫn xác định cơ cấu ngạch công chức và cơ cấu hạng chức danh nghề nghiệp viên chức, việc bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp giáo viên (viên chức) có sự giới hạn về số lượng.

Theo đó, đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (đơn vị tự chủ nhóm 3) và đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (đơn vị tự chủ nhóm 4), chức danh nghề nghiệp hạng I và tương đương tối đa không quá 10%; chức danh nghề nghiệp hạng II và tương đương tối đa không quá 50%; chức danh nghề nghiệp hạng III và tương đương trở xuống (nếu có): tối đa không quá 40%.

Cùng với đó, trường hợp chưa đủ số lượng theo tỷ lệ ở mỗi ngạch công chức hoặc mỗi hạng chức danh nghề nghiệp viên chức thì số còn thiếu được cộng vào ngạch (hạng) thấp hơn liền kề và có thể lớn hơn tỷ lệ theo quy định. Trường hợp số lượng thực tế hiện có vượt tỷ lệ nêu trên thì tạm thời không tổ chức thi, xét nâng ngạch hoặc xét thăng hạng lên ngạch công chức, hạng chức danh nghề nghiệp đã vượt quá tỷ lệ.

580831466-859384913105796-3685606549279170769-n.jpg
Giáo viên Trường Trung học phổ thông Nguyễn Văn Huyên. Ảnh minh hoạ: website nhà trường

Đồng quan điểm, cô Lê Thị Kim Dung cũng cho biết, việc giới hạn chỉ tiêu xét thăng hạng giáo viên gây khó khăn cho nhà trường trong việc lập danh sách xếp hạng, nhà trường thường phải “so bó đũa, chọn cột cờ”, cân nhắc, lựa chọn trong số những giáo viên đều có năng lực để đảm bảo đúng tỷ lệ theo quy định.

“Ngoài ra, để được xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp, giáo viên còn phải đáp ứng yêu cầu về thời gian công tác. Trong khi đó, thực tế hiện nay có nhiều giáo viên trẻ có năng lực chuyên môn tốt, thậm chí đã đạt trình độ thạc sĩ trước khi về trường công tác, nhưng vẫn phải chờ đủ số năm theo quy định mới có thể được xét thăng hạng.

Cụ thể, để đủ điều kiện xét thăng hạng từ hạng III lên hạng II, giáo viên trung học cơ sở phải có thời gian giữ chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở hạng III hoặc tương đương đủ từ 9 năm trở lên. Tương tự, giáo viên trung học cơ sở phải đảm bảo thời gian giữ chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở hạng II hoặc tương đương từ đủ 6 năm trở lên để đủ điều kiện xét thăng hạng từ hạng II lên hạng I.

Điều này phần nào khiến quá trình ghi nhận và phát huy năng lực của đội ngũ giáo viên trẻ chưa thực sự kịp thời, đồng thời cũng có thể làm giảm động lực phấn đấu trong giai đoạn đầu sự nghiệp của giáo viên”, cô Dung bày tỏ.

Từ những vướng mắc nêu trên, theo cô Dung, cần có những điều chỉnh phù hợp để công tác xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên vừa đảm bảo chất lượng, vừa tạo điều kiện phát huy năng lực của đội ngũ.

Trước hết, cần xem xét linh hoạt hơn về chỉ tiêu xét thăng hạng và danh hiệu chiến sĩ thi đua theo thực tế để giảm áp lực cho nhà trường trong quá trình lựa chọn, đồng thời đảm bảo những giáo viên thực sự có năng lực không phải tiếp tục chờ đợi chỉ vì giới hạn số lượng.

Đối với yêu cầu về thời gian công tác, có thể nghiên cứu cơ chế rút ngắn hoặc có lộ trình linh hoạt hơn đối với những giáo viên trẻ có năng lực nổi trội, thành tích rõ ràng. Qua đó, tạo điều kiện để đội ngũ này sớm được ghi nhận, phát huy năng lực và duy trì động lực cống hiến lâu dài.

“Mặt khác, đối với trường hợp môn học chưa đủ giáo viên có bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên, tôi kỳ vọng việc tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng nâng chuẩn theo đúng chuyên môn cho giáo viên tiếp tục được đẩy mạnh.

Đồng thời, cần có kế hoạch thông tin sớm, rõ ràng về việc mở lớp theo từng môn học để các nhà trường chủ động nắm bắt, tạo điều kiện cho giáo viên tham gia. Từ đó, giúp đội ngũ giáo viên thuận lợi hơn trong việc hoàn thiện tiêu chuẩn và đáp ứng các yêu cầu của chức danh nghề nghiệp”, Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Nguyễn Đức Lượng đề xuất.

Về phía Trường Trung học cơ sở Lê Lợi, cô Nguyệt cho biết, nhà trường triển khai công tác xét thăng hạng theo đúng quy định và tiêu chí tại các thông tư, văn bản hướng dẫn hiện hành.

“Nhờ có hệ thống tiêu chí tương đối rõ ràng, cùng với việc thành lập hội đồng xét duyệt của nhà trường, quá trình này nhìn chung diễn ra thuận lợi, đảm bảo tính minh bạch và đúng quy trình.

Thực tế cho thấy, các tiêu chí xét thăng hạng từ hạng III lên hạng II tương đối phù hợp và nằm trong khả năng đáp ứng của đa số giáo viên. Trong khi đó, để đạt được chức danh giáo viên hạng I, giáo viên cần đáp ứng các tiêu chí cao hơn, đặc biệt là phải được công nhận là chiến sĩ thi đua cấp bộ/ban/ngành/tỉnh trở lên, hoặc bằng khen từ cấp tỉnh trở lên. Song, đây cũng là động lực để giáo viên tiếp tục nỗ lực, nâng cao chất lượng chuyên môn và tích lũy thành tích trong quá trình công tác để xứng đáng với chức danh nghề nghiệp cao nhất”, cô Nguyệt bày tỏ.

Ngọc Hà