Việc xác định tỷ lệ giáo viên hạng II trong các cơ sở giáo dục phổ thông đang là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm của đội ngũ nhà giáo và các nhà quản lý. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục, chuẩn hóa đội ngũ theo vị trí việc làm là yêu cầu tất yếu, tuy nhiên nếu áp dụng tỷ lệ cứng, thiếu căn cứ thực tiễn sẽ dễ dẫn đến bất cập có thể làm giảm động lực phấn đấu của giáo viên.
Nhiệm vụ của giáo viên phổ thông hạng II chủ yếu dành cho cán bộ, quản lý, tổ trưởng chuyên môn
Theo các quy định hiện hành về chức danh nghề nghiệp giáo viên, giáo viên hạng II không chỉ đơn thuần là người trực tiếp giảng dạy mà còn đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ mang tính dẫn dắt chuyên môn. Họ được kỳ vọng là lực lượng nòng cốt trong tổ chức hoạt động giáo dục, tham gia xây dựng kế hoạch, hướng dẫn đồng nghiệp, triển khai đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá.
Trên thực tế, nếu đối chiếu với nhiệm vụ cụ thể, có thể thấy phần lớn các tiêu chí của giáo viên hạng II gắn chặt với vai trò của tổ trưởng chuyên môn, nhóm trưởng chuyên môn, hoặc những giáo viên cốt cán được giao nhiệm vụ hỗ trợ chuyên môn trong nhà trường. Đây là những vị trí đòi hỏi năng lực quản lý, khả năng điều phối, tổ chức hoạt động giáo dục và dẫn dắt tập thể.
Theo Thông tư 30/2026/TT-BGDĐT quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông, đối với giáo viên trung học phổ thông sẽ có các nhiệm vụ sau:
“Giáo viên trung học phổ thông hạng II phải thực hiện các nhiệm vụ quy định tại khoản 1 Điều này và các nhiệm vụ sau:
a) Làm báo cáo viên hoặc dạy minh họa ở các lớp bồi dưỡng giáo viên từ cấp trường trở lên hoặc dạy thử nghiệm các mô hình, phương pháp, công nghệ mới; chủ trì các nội dung bồi dưỡng và sinh hoạt chuyên đề ở tổ chuyên môn hoặc tham gia xây dựng học liệu điện tử;
b) Tham gia hướng dẫn hoặc đánh giá các sản phẩm nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từ cấp trường trở lên;
c) Tham gia đánh giá ngoài hoặc công tác kiểm tra chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên từ cấp trường trở lên;
d) Tham gia ban giám khảo hội thi, kỳ thi giáo viên dạy giỏi hoặc giáo viên chủ nhiệm lớp giỏi cấp trường trở lên;
đ) Tham gia ra đề hoặc chấm thi học sinh giỏi trung học phổ thông từ cấp trường trở lên;
e) Tham gia hướng dẫn hoặc đánh giá các hội thi, kỳ thi hoặc các sản phẩm nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của học sinh trung học phổ thông từ cấp trường trở lên;
g) Tham gia các hoạt động xã hội, phục vụ cộng đồng; thu hút sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong việc tổ chức các hoạt động dạy học, giáo dục học sinh;
h) Ứng dụng chuyển đổi số và khai thác học liệu số trong giảng dạy, giáo dục, học tập và sinh hoạt chuyên môn;
i) Thực hiện các nhiệm vụ khác hiệu trưởng phân công phù hợp với tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của hạng II và quy định khác của pháp luật có liên quan.”
Người viết là phó hiệu trưởng một trường phổ thông nhận thấy gần như tất cả các nhiệm vụ của giáo viên trung học phổ thông hạng II đều do cán bộ quản lý, tổ trưởng/tổ phó chuyên môn hoặc giáo viên cốt cán (thường cũng là tổ trưởng/tổ phó chuyên môn kiêm).
Nếu giáo viên bình thường không kiêm nhiệm tổ trưởng/tổ phó chuyên môn hoặc không giữ chức vụ cán bộ quản lý trường học thì sẽ đảm nhận các nhiệm vụ của giáo viên trung học phổ thông hạng II trở lên.
Trong nhiều trường phổ thông hiện nay, số lượng giáo viên được xếp hạng II lại vượt xa số lượng vị trí thực sự cần đảm nhiệm các vai trò nói trên. Điều này dẫn đến một nghịch lý: nhiều giáo viên hạng II nhưng không có “đất” để thể hiện vai trò, trong khi nhiệm vụ thực tế vẫn tương đồng với giáo viên hạng III.
Cần nhìn nhận thẳng thắn rằng, không phải tất cả giáo viên giỏi đều cần hoặc phù hợp với vai trò của giáo viên hạng II. Có những giáo viên có năng lực chuyên môn rất tốt, giảng dạy hiệu quả, nhưng không nhất thiết phải tham gia công tác quản lý hay điều hành chuyên môn. Việc “đẩy” quá nhiều giáo viên lên hạng II trong khi không gắn với vị trí việc làm cụ thể sẽ làm mất đi ý nghĩa phân hạng, khiến hệ thống chức danh nghề nghiệp trở nên hình thức.
Theo tôi, vị trí việc làm tương ứng giáo viên hạng II 50% là quá cao
Nhiều địa phương hiện nay đang thực hiện việc thăng hạng cho giáo viên từ hạng III lên hạng II hay hạng II lên hạng I ở các cấp học, bậc học.
Theo Công văn 64/BNV-CCVC do Bộ Nội vụ quy định cơ cấu chức danh nghề nghiệp viên chức, trong đó tỷ lệ hạng II và tương đương tối đa không quá 50% tổng số viên chức trong đơn vị. Quy định này nhằm định hướng xác định cơ cấu hạng chức danh, đảm bảo việc thăng hạng, bổ nhiệm đúng quy định.
Tức là nếu mỗi trường bổ nhiệm đủ số lượng thì sẽ có đến 50% giáo viên hạng II, nếu chưa đủ thì sẽ tổ chức xét thăng hạng từ hạng III lên hạng II, nếu đã đủ chỉ tiêu hạng II thì không tổ chức xét thăng hạng mà phải chờ.
Điều đó dẫn đến một số trường hợp đã bổ nhiệm đủ số lượng giáo viên hạng II, trong khi đó thực tế có những người bổ nhiệm hạng II lại không thực hiện nhiệm vụ giáo viên hạng II hoặc làm việc kém hiệu quả, còn những người như hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn đủ tiêu chuẩn đang thực hiện nhiệm vụ giáo viên hạng II lại không được xét thăng hạng.
Điều này dẫn đến bất cập và bất công trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và hạng.
Có người cho rằng nên bỏ chỉ tiêu thăng hạng để ai cũng được xét thăng hạng. Tuy nhiên, nếu phân tích trên góc độ vị trí việc làm và nhu cầu thực tế, đề xuất này là quá cao và thiếu cơ sở.
Một trường phổ thông trung bình thường có cơ cấu gồm: ban giám hiệu (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng), các tổ chuyên môn, và đội ngũ giáo viên. Trong đó, số lượng tổ trưởng chuyên môn thường chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, tùy theo số môn học hoặc nhóm môn. Ngay cả khi tính thêm các giáo viên cốt cán, lực lượng cần đảm nhiệm vai trò tương đương hạng II cũng khó có thể vượt quá 20-30% tổng số giáo viên.
Nếu áp dụng tỷ lệ 50%, sẽ dẫn đến tình trạng “thừa hạng II, thiếu việc làm phù hợp”. Khi đó, nhiều giáo viên hạng II vẫn chỉ thực hiện nhiệm vụ như giáo viên hạng III, không phát huy được vai trò dẫn dắt, trong khi chế độ, chính sách lại có sự khác biệt. Điều này không chỉ gây lãng phí nguồn lực mà còn tiềm ẩn nguy cơ mất cân bằng trong đội ngũ.
Hơn nữa, khi tỷ lệ hạng II quá cao, việc xét thăng hạng sẽ trở nên dễ dãi, không còn mang tính chọn lọc. Điều này vô hình trung làm giảm giá trị của danh xưng hạng II, khiến những giáo viên thực sự có năng lực nổi trội không còn được ghi nhận xứng đáng.
Do đó, việc khống chế tỷ lệ hợp lý là cần thiết để đảm bảo tính phân tầng rõ ràng, tạo động lực phấn đấu và giữ vững chất lượng đội ngũ.
Vị trí việc làm hạng II nên phân bổ theo số lượng cán bộ quản lý, tổ trưởng không nên cào bằng
Theo người viết, một trong những hạn chế hiện nay là cách tiếp cận mang tính “cào bằng” khi xác định tỷ lệ giáo viên hạng II giữa các trường hoặc giữa các địa phương. Trong khi đó, mỗi nhà trường có quy mô, đặc thù và cơ cấu tổ chức khác nhau, nên không thể áp dụng một tỷ lệ chung cho tất cả.
Thay vì quy định một con số cố định 50% như hiện nay, cần chuyển sang cách tiếp cận dựa trên vị trí việc làm cụ thể. Theo đó, số lượng giáo viên hạng II nên gắn trực tiếp với: Số lượng tổ chuyên môn trong trường; Số lượng tổ trưởng, tổ phó chuyên môn; Nhu cầu thực tế về giáo viên cốt cán, phụ trách chuyên môn; Quy mô trường học (số lớp, số học sinh); Định hướng phát triển và yêu cầu đổi mới của từng nhà trường.
Ví dụ, một trường có 6 tổ chuyên môn thì số tổ trưởng là 6 người, có thể tính thêm một số tổ phó và giáo viên cốt cán, tổng cộng khoảng 10-12 người đảm nhiệm vai trò tương đương hạng II. Nếu trường có 40 giáo viên, thì tỷ lệ hạng II hợp lý chỉ khoảng 25-30%, chứ không thể lên đến 50%.
Ngược lại, với những trường quy mô lớn, có nhiều lớp, nhiều tổ chuyên môn, nhu cầu về giáo viên hạng II có thể cao hơn. Điều này cho thấy, tỷ lệ không nên cứng nhắc mà cần linh hoạt, dựa trên thực tế từng đơn vị.
Cách làm này không chỉ đảm bảo đúng bản chất của chức danh nghề nghiệp mà còn giúp nhà trường sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực. Quan trọng hơn, nó tạo ra sự công bằng, minh bạch, tránh tình trạng nơi thừa – nơi thiếu, hoặc “chạy theo chỉ tiêu” để nâng hạng một cách hình thức.
Một tỷ lệ hợp lý, theo góc nhìn thực tiễn của người viết có thể dao động trong khoảng 20-30% đối với đa số các trường phổ thông hiện nay. Đây là mức vừa đủ để đảm bảo lực lượng nòng cốt, vừa tránh lãng phí nguồn lực và giữ được giá trị của chức danh hạng II.
Quan trọng hơn, cần thay đổi tư duy từ “xếp hạng theo tỷ lệ” sang “bố trí theo vị trí việc làm”. Khi mỗi giáo viên được đặt đúng vị trí, được đánh giá đúng năng lực và giao đúng nhiệm vụ, hệ thống chức danh nghề nghiệp mới thực sự phát huy hiệu quả.
Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, việc xây dựng đội ngũ nhà giáo không chỉ dừng lại ở việc nâng hạng, mà cốt lõi là nâng chất. Và để làm được điều đó, mọi chính sách, trong đó có việc xác định tỷ lệ giáo viên hạng II, cần được thiết kế một cách khoa học, linh hoạt và sát thực tiễn hơn.
(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.