Nhiều bệnh nhân quan tâm đến việc bác sĩ được đào tạo ở trường nào

14/02/2026 06:20
Diệu Dương
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Đối với đào tạo bác sĩ, bệnh viện thực hành lâm sàng cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện về quy mô hoạt động, hệ thống cơ sở vật chất và thiết bị y tế.

Theo thống kê của Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, hiện nay, Việt Nam có hơn 30 cơ sở giáo dục đại học tham gia đào tạo ngành Y khoa, trong đó 13 trường triển khai hệ bác sĩ nội trú. Việc mở rộng mạnh mẽ quy mô đào tạo trong những năm gần đây đã góp phần vào nỗ lực giải quyết tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực bác sĩ cho hệ thống y tế. Tuy nhiên, song hành với sự gia tăng về số lượng là những băn khoăn về chất lượng đào tạo, khi giữa các cơ sở vẫn tồn tại sự chênh lệch đáng kể về bề dày truyền thống, năng lực đầu tư cơ sở vật chất cũng như điều kiện bảo đảm chuẩn đầu ra.

Theo ý kiến của các chuyên gia, chất lượng đào tạo ngành Y khoa hiện nay được đánh giá chưa thực sự đồng đều; chuẩn đầu vào, đầu ra còn nơi cao, nơi thấp. Do Y khoa là ngành đặc thù đòi hỏi công tác đào tạo phải gắn chặt với bệnh viện thực hành, đội ngũ giảng viên chuyên sâu và hệ thống kiểm định độc lập, nên định hướng không cho phép các trường đại học không chuyên đào tạo bác sĩ được dư luận dành nhiều sự quan tâm.

Thực tế bệnh nhân thường quan tâm đến việc bác sĩ được đào tạo tại trường nào

Trước nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của xã hội, chia sẻ về bài toán đào tạo nhân lực y tế, Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy thuốc Nhân dân Nguyễn Anh Trí - nguyên Viện trưởng Viện Huyết học và Truyền máu Trung ương cho biết, việc đồng ý cho phép mở rộng hệ thống đào tạo ở cả hệ thống công lập và tư thục là định hướng phù hợp để người học có thêm lựa chọn và giải quyết sự thiếu hụt của cán bộ y tế. Song, Y khoa là lĩnh vực đặc thù liên quan trực tiếp đến sức khoẻ con người, vì vậy việc đáp ứng nhu cầu thực tiễn không đồng nghĩa với việc cho phép mở mã ngành một cách ồ ạt nhưng chất lượng đào tạo chưa đi sâu vào thực chất, đặc biệt ở các trường đa ngành chưa có bề dày truyền thống hoặc thiếu nền tảng chuyên môn sâu.

Điểm khác biệt trong đào tạo ngành Y khoa là quá trình giảng dạy phải gắn liền với giáo dục y đức nghề nghiệp. Bất kỳ cơ sở đào tạo nào cũng cần quy tụ được những người thầy vừa có trình độ chuyên môn cao về kiến thức, vừa mẫu mực về phẩm chất, đạo đức để người học có thể soi chiếu và noi theo. Bởi lẽ, xã hội không chỉ cần bác sĩ giỏi nghề mà còn cần người thầy thuốc có tâm. Bên cạnh yếu tố về con người, một thách thức khác trong đào tạo y khoa cũng rất quan trọng chính là môi trường thực hành. Đây là một quy trình tổng hòa đòi hỏi sự đồng bộ từ cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại cho đến quy mô của bệnh viện, số lượng bệnh nhân và giảng viên hướng dẫn.

Thực tế hiện nay vẫn tồn tại những lo ngại liên quan đến chất lượng đào tạo tại một số cơ sở giáo dục đại học trong lĩnh vực Y khoa. Cụ thể, có tình trạng một số cơ sở mở ngành đào tạo nhưng chưa đầu tư tương xứng cho hệ thống bệnh viện hoặc cơ sở thực hành, trong khi đây lại là một trong yếu tố mang tính quyết định đối với chất lượng đào tạo. Ngoài ra, có trường hợp giảng viên tuy có tên trong danh sách đội ngũ nhưng việc tham gia trực tiếp vào hoạt động giảng dạy lâm sàng, hướng dẫn thực hành cho sinh viên còn hạn chế, làm giảm hiệu quả của quá trình đào tạo gắn với thực tiễn.

587360872-1417335630400251-3857438703397265624-n.jpg
Ảnh minh hoạ: HMU.

Sự chênh lệch về năng lực đào tạo giữa các cơ sở giáo dục đại học vì vậy là điều khó tránh khỏi, và phần nào lý giải cho thực tế người bệnh thường quan tâm đến việc bác sĩ được đào tạo tại trường nào. Đây là mối quan tâm chính đáng, bởi trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của một bác sĩ gắn chặt với quá trình học tập, rèn luyện trong một môi trường đào tạo bài bản, chuyên nghiệp và có điều kiện thực hành đầy đủ. Chính môi trường này góp phần hình thành nền tảng chuyên môn vững chắc, tạo sự tin tưởng cho người bệnh trong quá trình khám, chữa bệnh.

Để bảo đảm chất lượng đào tạo đối với đội ngũ y, bác sĩ, cần có sự xem xét, điều chỉnh và giám sát đồng bộ nhiều yếu tố trong toàn bộ quá trình đào tạo. Trong đó, hệ thống cơ sở thực hành tại các cơ sở đào tạo đóng vai trò then chốt và cần được đặc biệt chú trọng. Thực tế cho thấy, đào tạo y khoa là lĩnh vực gắn chặt với thực hành, do đó chất lượng cơ sở thực hành có ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực chuyên môn của người học sau khi tốt nghiệp.

Đối với đào tạo bác sĩ, các cơ sở khám chữa bệnh nơi sinh viên thực hành lâm sàng cần đáp ứng đầy đủ điều kiện về quy mô, số lượng người bệnh. Đây là tiền đề quan trọng giúp sinh viên có cơ hội tiếp cận thực tế, rèn luyện kỹ năng chuyên môn và nâng cao năng lực xử lý tình huống lâm sàng. Việc đánh giá chất lượng cơ sở thực hành cần dựa trên nhiều tiêu chí cụ thể như quy mô hoạt động, trình độ kỹ thuật, hệ thống máy móc, thiết bị phục vụ cho công tác thực tập. Chỉ khi các điều kiện này được bảo đảm đầy đủ, quá trình đào tạo mới thực sự hiệu quả và đáp ứng yêu cầu về chất lượng để hệ thống đào tạo khối ngành Y dược từng bước tiệm cận các chuẩn mực quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập trong bối cảnh hiện nay.

Siết chặt điều kiện đào tạo là van an toàn để phòng ngừa sai sót y khoa

Đánh giá về thực trạng chất lượng đào tạo bác sĩ hiện nay, bác sĩ Phùng Thị Hoàn - nguyên Phó trưởng khoa, Khoa Cấp cứu và Chống độc, Bệnh viện Nhi Trung ương cho hay, chất lượng đào tạo giữa các cơ sở chưa thực sự đồng bộ. Cụ thể, chuẩn đầu vào và đầu ra giữa các trường còn có sự chênh lệch, mô hình đào tạo của các cơ sở, bậc học chưa chuẩn hóa thống nhất.

Từ kinh nghiệm của nhiều quốc gia có ngành y học phát triển như Mỹ, Pháp hay Nhật Bản, chương trình đào tạo bác sĩ được thiết kế theo lộ trình rõ ràng, kéo dài từ khoảng 9 đến 13 năm. Điểm chung của các mô hình này là sau khi hoàn thành bậc đại học ngành Y khoa thường kéo dài 6 năm, sinh viên đều phải tham gia kỳ thi quốc gia nhằm đánh giá năng lực một cách thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Trên cơ sở kết quả thi và xếp hạng theo điểm số, sinh viên mới được lựa chọn chuyên khoa và cơ sở đào tạo tiếp theo.

Tại nhiều nước, những năm đầu trong chương trình đào tạo tập trung trang bị nền tảng khoa học cơ bản và y học nền tảng. Vào giai đoạn thứ hai, sinh viên được đào tạo chuyên sâu về chuyên ngành y khoa và kỹ thuật lâm sàng. Giai đoạn thứ ba là đào tạo nội trú, bác sĩ được đào tạo chuyên khoa sâu và hành nghề dưới sự giám sát chặt chẽ trước khi đủ điều kiện hành nghề độc lập. Đáng chú ý, các bệnh viện chỉ được phép tham gia đào tạo bác sĩ nội trú khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về chuyên môn, cơ sở vật chất và đội ngũ hướng dẫn. Việc phân bổ bác sĩ nội trú tại các cơ sở khám chữa bệnh được sắp xếp dựa trên điểm số của người học, các bệnh viện tuyến đầu ưu tiên tiếp nhận những bác sĩ có kết quả học tập cao, sau đó đến những cơ sở ở tuyến dưới. Cách làm này là cơ chế đối chiếu matching đang được áp dụng tại Pháp.

175964307-3261704550730018-9047448766385101845-n.jpg
Ảnh minh hoạ: HMU.

Tại Việt Nam hiện nay, công tác đào tạo bác sĩ thường chỉ dừng lại ở khâu lựa chọn chuyên khoa, chưa thực hiện phân vùng, phân tuyến cơ sở bệnh viện. Điều này khiến một số bệnh viện tuyến đầu có khi phải tiếp nhận tới gần 50 bác sĩ nội trú tới học cùng một thời điểm, gây áp lực lớn lên hệ thống đào tạo. Trong khi đó, một số trường đào tạo y khoa nhưng đội ngũ, cơ sở vật chất còn mỏng, dẫn đến chất lượng đào tạo những ngành này không được như kì vọng. Do đó, việc siết chặt quản lí, quy hoạch lại các cơ sở đào tạo Y khoa để nâng cao chất lượng giảng dạy là cần thiết.

Từ thực tiễn đó, định hướng chỉ cho phép các cơ sở giáo dục đại học chuyên đào tạo bác sĩ được đánh giá là định hướng đúng đắn nhằm bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực y khoa. Nhiều trường đại học đa ngành hiện nay còn thiếu hệ thống cơ sở thực hành, đội ngũ giảng viên lâm sàng và phòng thí nghiệm đạt chuẩn. Việc siết chặt điều kiện đào tạo là giải pháp phù hợp để phòng ngừa sai sót y khoa ngay từ gốc, đồng thời đóng vai trò như van an toàn trong bảo vệ chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân, bảo đảm sinh viên y khoa được đào tạo trong môi trường chuyên nghiệp và chuẩn mực nhất.

Đồng tình với ý kiến trên, theo một giảng viên Trường Đại học Y Hà Nội, đào tạo y khoa là lĩnh vực mang tính đặc thù rất cao, không thể tách rời khỏi hệ thống bệnh viện thực hành. Việc đào tạo ngành Y khoa chỉ có thể đảm bảo đi sâu vào thực chất khi giảng đường dạy lý thuyết và bệnh viện bồi dưỡng kỹ năng thực hành được tạo thành chỉnh thể thống nhất, không chỉ về nội dung chuyên môn, mà còn về triết lý giáo dục và trách nhiệm xã hội. Việc tách rời hai yếu tố này hoặc coi nhẹ vai trò của hệ thống thực hành sẽ khiến quá trình đào tạo khó đạt được mục tiêu hình thành đội ngũ bác sĩ có năng lực và y đức vững vàng.

Điều này cũng phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; trong đó khẳng định các văn bằng đào tạo chuyên khoa của ngành y là loại hình văn bằng chuyên sâu, mang tính đặc thù, đòi hỏi điều kiện đào tạo nghiêm ngặt và môi trường thực hành đạt chuẩn.

Tuy nhiên, trên thực tế, chất lượng đào tạo khối ngành sức khỏe tại một số cơ sở giáo dục đại học đa ngành hiện nay còn đang đặt ra nhiều băn khoăn. Khi điều kiện cơ sở thực hành, đội ngũ giảng viên lâm sàng và hệ thống kiểm định chất lượng chưa được bảo đảm tương xứng, nguy cơ hình thành sản phẩm đầu ra trong đào tạo thiếu đồng đều, khó kiểm soát chất lượng là điều không nên xem nhẹ. Về lâu dài, điều này có thể tiềm ẩn rủi ro đối với chất lượng nguồn nhân lực y tế trong tương lai.

Đặt vấn đề trong so sánh với kinh nghiệm quốc tế cho thấy, tại nhiều quốc gia trên thế giới, quá trình đào tạo sau đó lại được tổ chức hết sức nghiêm ngặt. Các chương trình đào tạo được thiết kế với nhiều "cửa ải” đánh giá liên tục, từ kiến thức học thuật đến năng lực thực hành. Theo đó, tỷ lệ sinh viên có thể hoàn thành chương trình và đủ điều kiện hành nghề chỉ dao động khoảng 30-40% so với số lượng ban đầu. Cách tiếp cận này phản ánh quan điểm nhất quán: đào tạo bác sĩ là quá trình sàng lọc nghiêm túc nhằm bảo đảm chất lượng, chứ không đơn thuần là cấp phát văn bằng.

Vì vậy cần tránh cách tiếp cận đào tạo theo kiểu hình thức để bảo đảm đầu ra, khi việc hoàn thành chương trình học đôi khi chưa đi kèm với quá trình sàng lọc đủ chặt chẽ về năng lực nghề nghiệp. Nếu văn bằng chưa phản ánh đầy đủ trình độ chuyên môn và khả năng hành nghề thực tế, hệ thống đào tạo sẽ khó đạt được mục tiêu bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực y tế. Điều này đặt ra yêu cầu cần rà soát, điều chỉnh cách thức tổ chức đào tạo theo hướng thắt chặt nghiêm túc các tiêu chuẩn để việc giảng dạy đi vào thực chất và cầu thị hơn, phù hợp với tính đặc thù của ngành Y khoa.

Có thể thấy, việc mở rộng quy mô đào tạo ngành Y khoa là xu hướng tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của xã hội. Tuy nhiên, điều quan trọng là cơ quan quản lý cần siết chặt các tiêu chuẩn cấp phép, tăng cường công tác kiểm định và giám sát chất lượng đào tạo. Về phía các cơ sở đào tạo, cần đặt trọng tâm vào chất lượng đào tạo, thay vì chạy theo quy mô tuyển sinh hay các yếu tố kinh tế thuần túy. Bởi lẽ, đào tạo bác sĩ không thể được tiếp cận như một ngành đào tạo thông thường, mà phải lấy sự an toàn và niềm tin của người bệnh làm giá trị cốt lõi, là thước đo cao nhất cho mọi hoạt động đào tạo.

Diệu Dương