Sắp xếp mạng lưới đại học công lập: Tinh gọn hệ thống nhưng phải giữ vững khoa học cơ bản

02/03/2026 06:21
Hướng Sáng
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Ngành khoa học cơ bản có thể không thu hút đông đảo người học trong ngắn hạn, nhưng đó là nơi hình thành tư duy, phương pháp và năng lực sáng tạo gốc rễ.

Văn bản số 8562/BGDĐT-TCCB của Bộ Giáo dục và Đào tạo về định hướng sắp xếp, tổ chức lại cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập được ban hành trong bối cảnh hệ thống giáo dục đại học đang đứng trước những yêu cầu đổi mới rất mạnh mẽ. Quy hoạch lại mạng lưới, khắc phục tình trạng manh mún, chồng chéo, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và tiệm cận chuẩn chất lượng là chủ trương đúng đắn, cần thiết và phù hợp với tiến trình phát triển.

Tinh thần chung của văn bản là rõ ràng: không sắp xếp theo tiêu chí tự chủ tài chính đơn thuần, mà dựa trên mức độ đáp ứng chuẩn, hiệu quả hoạt động, vai trò và tính thiết yếu của từng cơ sở trong tổng thể quy hoạch quốc gia. Ở góc độ đó, có thể nói định hướng của Bộ là hợp lí và có cơ sở.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, có một vấn đề cần được phân tích sâu hơn: cách nhìn và cách xử lí đối với các ngành “khó tuyển” nhưng lại là các ngành khoa học cơ bản và lĩnh vực nền tảng cho phát triển bền vững.

Nếu chỉ quan sát bề mặt số liệu tuyển sinh, không ít ngành như Toán, Lí, Hóa, Sinh, Văn, Sử, Triết, Nông – Lâm – Thủy sản, Môi trường… đang gặp khó khăn về quy mô đầu vào. Nhưng nếu chỉ vì khó tuyển mà thu hẹp hoặc xóa bỏ các ngành này, thì đó sẽ là một lựa chọn mang tính ngắn hạn, tiềm ẩn hệ quả dài hạn.

Bởi lẽ, khoa học cơ bản không phải là phần phụ trợ của hệ thống đại học mà đó là nền móng của toàn bộ kiến trúc tri thức.

c7c7e0b0937a1d24446b.jpg
Ảnh minh họa: Minh Chi

Muốn làm chủ công nghệ lõi, phải làm chủ nền tảng lí thuyết. Muốn phát triển công nghệ bán dẫn, vật liệu mới, năng lượng tái tạo, không thể thiếu vật lí và hóa học. Muốn đột phá về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, không thể thiếu toán học. Muốn nâng cao năng lực tự chủ sinh thái quốc gia, không thể thiếu sinh học, nông nghiệp, môi trường. Muốn phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo, không thể thiếu văn học, sử học, triết học – những lĩnh vực định hình hệ giá trị và bản sắc.

Trong các nghị quyết về đột phá khoa học – công nghệ và chuyển đổi số quốc gia, yêu cầu làm chủ công nghệ chiến lược, kĩ thuật then chốt luôn được nhấn mạnh. Nhưng công nghệ chiến lược không hình thành từ khoảng trống. Nó được nuôi dưỡng từ nghiên cứu cơ bản bền bỉ, từ những phòng thí nghiệm ít ồn ào nhưng có chiều sâu.

Nếu tái cấu trúc mạng lưới đại học mà vô tình làm suy yếu các ngành nền tảng, thì mục tiêu làm chủ công nghệ lõi sẽ trở nên mâu thuẫn với chính chính sách tổ chức hệ thống.

Vấn đề ở đây không phải là “giữ nguyên trạng mọi ngành”, cũng không phải là “bảo lưu hình thức”. Thực tế cho thấy có những đơn vị quy mô quá nhỏ, đội ngũ mỏng, hoạt động nghiên cứu hạn chế, tồn tại thiếu hiệu quả. Sắp xếp, hợp nhất, tái cấu trúc là cần thiết để tránh phân tán nguồn lực.

Nhưng sắp xếp cần dựa trên tư duy chiến lược, không nên chỉ dựa vào quy mô tuyển sinh ngắn hạn.

Có ba điểm cần được cân nhắc thận trọng

Thứ nhất, cần phân biệt giữa “quy mô nhỏ” và “giá trị chiến lược thấp”. Một ngành khoa học cơ bản có thể chỉ đào tạo vài chục sinh viên mỗi khóa, nhưng nếu đó là nguồn cung cấp nhân lực chất lượng cao cho hệ thống nghiên cứu, cho đào tạo sau đại học, cho các viện nghiên cứu và trung tâm công nghệ, thì giá trị của nó vượt xa con số đầu vào. Đánh giá hiệu quả của các ngành nền tảng không thể chỉ bằng thước đo thị trường tức thời.

Thứ hai, tái cấu trúc không đồng nghĩa với thu hẹp vai trò của khoa học cơ bản, mà cần tái thiết vị trí của chúng trong một hệ sinh thái liên ngành có tính chiến lược. Trong bối cảnh mới, các ngành cơ bản nên được tổ chức lại theo hướng gắn kết chặt chẽ với các lĩnh vực ứng dụng, công nghệ chiến lược và đặc biệt là với các cơ sở đào tạo giáo viên – nơi giữ vai trò lan tỏa tri thức nền tảng cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân.

Toán không chỉ là nền tảng của khoa học dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, mà còn là trụ cột của chương trình giáo dục phổ thông. Sinh học không chỉ phục vụ công nghệ sinh học hay nông nghiệp thông minh, mà còn định hình tư duy khoa học sự sống cho thế hệ học sinh. Hóa học gắn với vật liệu mới, kinh tế tuần hoàn, đồng thời là nền tảng để nâng cao chất lượng dạy học khoa học tự nhiên. Văn – Sử – Triết không chỉ liên quan đến chính sách công, quản trị xã hội và công nghiệp văn hóa, mà còn góp phần xây dựng hệ giá trị, bản sắc và năng lực tư duy phản biện cho người học từ phổ thông đến đại học.

Khi khoa học cơ bản được đặt trong mối liên kết hữu cơ với đào tạo giáo viên, nguồn lực không bị phân tán mà được tối ưu hóa theo chuỗi: từ nghiên cứu – đào tạo đại học – đào tạo giáo viên – tác động đến giáo dục phổ thông. Đó là cách tạo ra hiệu quả chiến lược dài hạn thay vì chỉ tối ưu hóa quy mô trước mắt.

Tái cấu trúc theo hướng tích hợp liên ngành sẽ giúp các ngành nền tảng không bị cô lập, đồng thời nâng cao tính hấp dẫn và khả năng thu hút người học.

Thứ ba, phát triển bền vững đòi hỏi tư duy dài hạn về tri thức. Việt Nam là quốc gia nông nghiệp nhiệt đới, chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, suy giảm đa dạng sinh học. Nếu hệ thống giáo dục đại học suy yếu các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, môi trường,… thì chúng ta sẽ tự làm giảm năng lực thích ứng và tự chủ sinh thái của chính mình.

Tương tự, nếu không đầu tư đủ cho các ngành nhân văn, thì kinh tế sáng tạo sẽ thiếu chiều sâu văn hóa, thiếu nền tảng giá trị. Sáng tạo không chỉ là đổi mới công nghệ, mà còn là tái tạo bản sắc trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Văn bản 8562 đặt ra yêu cầu rà soát, sắp xếp theo tiêu chí chuẩn và hiệu quả. Điều đó là cần thiết để khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực và hình thức hóa tổ chức. Tuy nhiên, khi triển khai ở từng bộ, ngành và địa phương, cần có cách tiếp cận phân tầng:

Một là, với những cơ sở yếu kém toàn diện, không đáp ứng chuẩn tối thiểu, việc tổ chức lại là cần thiết.

Hai là, với những ngành nền tảng khó tuyển nhưng có giá trị chiến lược, cần có cơ chế đặc thù về đầu tư, quy mô và chính sách học bổng để duy trì và phát triển.

Trong bối cảnh quốc gia đặt mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, nguồn lực tri thức là yếu tố quyết định. Mọi cải cách về tổ chức hệ thống đại học đều phải trả lời câu hỏi: sau 20–30 năm nữa, đất nước cần những năng lực lõi nào?

Nếu chỉ tối ưu hóa hiện tại, có thể đạt hiệu quả tức thì. Nhưng nếu biết giữ gìn và nuôi dưỡng “tầng sâu” của hệ thống tri thức, chúng ta mới có nền tảng cho những bước nhảy vọt bền vững.

Sắp xếp mạng lưới không chỉ là bài toán quản trị hành chính; đó là bài toán chiến lược quốc gia. Mỗi quyết định về một ngành học hôm nay có thể ảnh hưởng đến năng lực tự chủ công nghệ, năng lực sinh thái và năng lực sáng tạo văn hóa của đất nước trong nhiều thập niên tới.

Vì vậy, đồng tình với chủ trương của Bộ, nhưng trong quá trình thực thi, các bên liên quan cần cân nhắc kĩ lưỡng, đánh giá đa chiều và có tầm nhìn dài hạn. Tinh gọn là cần thiết, nhưng tinh gọn không có nghĩa là làm mỏng đi những lớp nền móng.

Một quốc gia muốn phát triển bền vững phải biết đầu tư cho phần không ồn ào của tri thức. Những ngành khoa học cơ bản có thể không thu hút đông đảo người học trong ngắn hạn, nhưng chính chúng là nơi hình thành tư duy, phương pháp và năng lực sáng tạo gốc rễ.

Giữ vững được những nền tảng ấy trong quá trình tái cấu trúc hệ thống đại học, đó mới là cách thực hiện tốt nhất chủ trương đổi mới – vì lợi ích lâu dài của quốc gia và dân tộc.

Hướng Sáng