Thành phố Hà Nội đang hướng tới mục tiêu đào tạo 1.000 tiến sĩ giai đoạn 2026-2030 để bồi dưỡng nguồn nhân lực tinh hoa cho Thủ đô.

Theo đó, Dự thảo Nghị quyết Quy định chính sách hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh của thành phố Hà Nội đã đưa ra hàng loạt mức hỗ trợ vượt trội cùng các tiêu chuẩn khắt khe trong việc chọn lọc nhằm thúc đẩy năng lực nghiên cứu của các ứng viên.

Chính sách tác động mạnh mẽ tới các cơ sở đào tạo tiến sĩ

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Đồng Văn Quyền - Phó Viện trưởng Viện Sinh học (trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) nhận định, nghiên cứu sinh trong nước hiện đối mặt với nhiều khó khăn, nhất là vấn đề tài chính.

Ở hầu hết các quốc gia, nghiên cứu sinh sẽ được cấp học bổng từ cơ sở đào tạo, từ Chính phủ hoặc từ nguồn kinh phí của các dự án nghiên cứu do giáo sư hướng dẫn chủ trì. Nguồn hỗ trợ này cơ bản đủ để chi trả học phí và sinh hoạt phí trong suốt quá trình đào tạo.

Trong khi đó, tại Việt Nam, phần lớn nghiên cứu sinh vẫn phải tự chi trả học phí và các chi phí sinh hoạt. Đối với những nghiên cứu sinh tự do, không thuộc biên chế của cơ sở đào tạo hay đơn vị công tác nào, họ không có nguồn lương ổn định, đồng thời cũng khó dành thời gian đi làm thêm để trang trải cuộc sống. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập và nghiên cứu.

Dự thảo Nghị quyết Quy định chính sách hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh của Thành phố Hà Nội quy định hỗ trợ 100% phí công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí khoa học và công nghệ uy tín quốc tế thuộc danh mục cơ sở dữ liệu các tạp chí khoa học của Web of Science. Đây là chính sách rất tích cực, hỗ trợ cho nghiên cứu sinh trong quá trình triển khai đề tài và thực hiện các hoạt động nghiên cứu.

Chi phí công bố quốc tế ở tạp chí khoa học uy tín hiện nay khá cao. Ở các lĩnh vực khoa học tự nhiên hoặc công nghệ sinh học, mức phí thường dao động khoảng 1.000-4.000 USD (khoảng hơn 26 triệu đến hơn 105 triệu đồng) cho mỗi bài báo. Vì vậy, nếu có chính sách hỗ trợ 100% phí công bố quốc tế sẽ là nguồn hỗ trợ thiết thực, giúp nghiên cứu sinh giảm bớt gánh nặng tài chính và tập trung hơn cho hoạt động nghiên cứu.

Bên cạnh đó, đối với nghiên cứu sinh, các khoản chi phí lớn nhất thường gắn trực tiếp với quá trình thực hiện nghiên cứu. Trước hết là chi phí vật tư, hóa chất và trang thiết bị, đặc biệt trong các lĩnh vực thực nghiệm như sinh học hay công nghệ sinh học.

Ngoài ra, việc tiếp cận tài liệu khoa học cũng tốn kém. Nhiều trường hợp nghiên cứu sinh phải tự chi trả để mua bài báo, dữ liệu nghiên cứu hoặc các phần mềm chuyên dụng phục vụ phân tích. Cùng với đó, chi phí tham dự hội thảo, hội nghị khoa học trong nước và quốc tế cũng là khoản chi đáng kể.

Trước thực tế đó, đề xuất của Thành phố Hà Nội về mức hỗ trợ 15 triệu đồng/tháng cùng kinh phí nghiên cứu tối đa 50 triệu đồng/năm giúp người học yên tâm tập trung cho nghiên cứu.

1jjbn1n8t-4udmct.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Đồng Văn Quyền - Phó Viện trưởng Viện Sinh học (trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Ảnh: NVCC

Thầy Quyền nhấn mạnh: “Để quá trình đào tạo tiến sĩ hiệu quả cao, cần có sự kết hợp giữa nguồn hỗ trợ từ chính sách của thành phố và kinh phí từ các đề tài, dự án khoa học mà nghiên cứu sinh tham gia. Sự phối hợp này sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn để nghiên cứu sinh triển khai nghiên cứu và hoàn thành luận án tiến sĩ với chất lượng tốt”.

Phó Viện trưởng Viện Sinh học cũng chia sẻ, việc hỗ trợ tài chính cho nghiên cứu sinh là cần thiết để nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực nghiên cứu. Tuy nhiên, hỗ trợ tài chính là chưa đủ. Quan trọng hơn là xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu bền vững, nơi nghiên cứu sinh được hỗ trợ về học thuật, có môi trường nghiên cứu thuận lợi và cơ hội hợp tác quốc tế, qua đó tạo nền tảng phát triển năng lực nghiên cứu lâu dài.

"Đào tạo tiến sĩ cần gắn với các nhóm nghiên cứu mạnh tại các trường đại học và viện nghiên cứu, tạo điều kiện để nghiên cứu sinh tham gia các dự án khoa học có định hướng dài hạn. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế hướng dẫn đa tầng, trong đó nghiên cứu sinh được hỗ trợ bởi giáo sư hướng dẫn, hội đồng khoa học và các chuyên gia trong và ngoài nước.

Bên cạnh đó, việc đầu tư cho các nhóm nghiên cứu mạnh và chia sẻ hạ tầng nghiên cứu như phòng thí nghiệm, cơ sở dữ liệu, hệ thống tính toán là yếu tố quan trọng để nghiên cứu sinh tiếp cận nguồn lực khoa học hiện đại. Song song với đó, cần thúc đẩy hợp tác quốc tế thông qua các hình thức như đồng hướng dẫn, trao đổi học thuật và tham gia mạng lưới nghiên cứu toàn cầu.

Ngoài ra, việc hỗ trợ phát triển nghề nghiệp sau tiến sĩ, cùng với xây dựng văn hóa học thuật minh bạch và liêm chính, sẽ tạo nền tảng bền vững cho sự phát triển của đội ngũ nghiên cứu trẻ”.

Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Hồng Sơn – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, chủ trương đào tạo nghiên cứu sinh gắn với các bài toán lớn của Thủ đô cho thấy định hướng kịp thời cho sự phát triển khoa học công nghệ của Hà Nội. Điều này nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp xây dựng, nâng tầm vị thế Thủ đô trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

Nếu chính sách này được thực hiện, sẽ có tác động mạnh mẽ đến quy trình tuyển sinh, tổ chức đào tạo, nghiên cứu khoa học, sáng tạo và truyền bá tri thức phục vụ cộng đồng của các cơ sở giáo dục đào tạo bậc sau đại học.

thay-son-4928.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Hồng Sơn – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: Tư liệu nhân vật cung cấp.

Thứ nhất, chủ trương này góp phần tăng cường sự kết hợp hài hòa và nâng cao trọng số để giải quyết các vấn đề của thực tiễn đất nước, địa phương trong các hoạt động đào tạo tiến sĩ ở cơ sở giáo dục đại học. Các luận án cần triển khai nghiên cứu từ thực tiễn, áp dụng lý thuyết và cách tiếp cận của ngành khoa học để giải quyết những bài toán lớn của Thủ đô sẽ góp phần giải quyết những vấn đề trọng yếu của Hà Nội từ một góc nhìn khoa học và góc nhìn này có thể độc lập với góc nhìn của những nhà quản lý hiện tại. Sau khi hoàn thành, có thể được áp dụng trong thực tiễn ngay vì luận án được tài trợ và đặt hàng để giải quyết vấn đề của thực tiễn.

Thứ hai, nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ của các cơ sở giáo dục đại học. Chủ trương này sẽ tạo nguồn lực tài chính, chính sách để các cơ sở giáo dục đại học có thể thu hút nghiên cứu sinh có trình độ học thuật, có kinh nghiệm quản lý thực tiễn, có kỹ năng xử lý vấn đề tốt. Đồng thời, tạo điều kiện để người học có thể đi nhiều nơi, thu thập nhiều dữ liệu, học hỏi nhiều kinh nghiệm để hoàn thành luận án, sáng tạo tri thức và đề xuất giải pháp phù hợp với mục tiêu và điều kiện thực tiễn của Hà Nội. Đây là điều kiện thuận lợi để các cơ sở giáo dục điều chỉnh tỷ trọng đào tạo nghiên cứu khoa học thuần túy với đào tạo nghiên cứu gắn với thực tiễn.

Trong quá trình triển khai, nếu Hà Nội ký kết hợp tác với các cơ sở giáo dục đại học và có chính sách hỗ trợ cơ sở vật chất thì nghiên cứu sinh sẽ có điều kiện triển khai nghiên cứu, thực nghiệm và sáng tạo, sáng chế tốt hơn. Đồng thời, các cơ sở giáo dục đại học cũng có điều kiện để nâng tầm vị thế của mình trong quan hệ đối tác chiến lược với thành phố Hà Nội, tăng thêm nguồn sản phẩm cung cấp cho các tổ chức, doanh nghiệp, nâng cao vị thế nhà trường trong cộng đồng học thuật quốc tế thông qua sản phẩm của nghiên cứu sinh là các bài công bố quốc tế có chỉ số ảnh hưởng cao.

Dự thảo cũng đề ra tiêu chuẩn đầu ra cần đạt đối với nghiên cứu sinh về công bố khoa học đăng trên các tạp chí quốc tế uy tín và tính ứng dụng thực tiễn.

Theo thầy Sơn, việc dự thảo đặt mục tiêu giải quyết các bài toán lớn trong tổ chức quản trị của Hà Nội cũng đồng nghĩa với sự cần thiết có nhiều khảo sát dữ liệu, tiến hành thực nghiệm, xây dựng mô hình, giải pháp công nghệ... Việc đăng tải các nghiên cứu này thành 2 bài trên tạp chí quốc tế uy tín có chỉ số cao không phải là dễ dàng, nhưng cũng không quá khó đối với nguồn tuyển sinh đầu vào đã được lựa chọn kỹ và được đầu tư xứng đáng từ tài chính đến cơ sở vật chất, điều kiện phòng thí nghiệm, thực nghiệm…

Khó khăn có thể ở lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, song một bài công bố quốc tế chỉ số cao cũng đã có giải pháp được thay thế bởi một chương sách tại các nhà xuất bản quốc tế uy tín. Điều này cũng phù hợp với điều kiện hiện nay của hoạt động đào tạo chất lượng cao ở các cơ sở giáo dục đại học tại Hà Nội.

Cùng bàn về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn - Trưởng ban, Ban Đào tạo và Công tác sinh viên (Đại học Quốc gia Hà Nội) bày tỏ, chủ trương của Hà Nội trong hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh thể hiện tầm nhìn chiến lược của thành phố trong việc hiện thực đồng bộ Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, cùng các cơ chế đặc thù tại Luật Thủ đô. Đây không chỉ đơn thuần là một gói hỗ trợ tài chính cho đào tạo mà còn là chiến lược đặt hàng chất xám trong khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để giải quyết các bài toán thực tiễn, cấp thiết của Thủ đô.

Theo thầy Tuấn, nếu dự thảo được thông qua sẽ thúc đẩy các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm đẩy mạnh đổi mới đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ theo hướng quốc tế hóa gắn yêu cầu công bố quốc tế trên các tạp chí có uy tín và hỗ trợ tài chính cho nghiên cứu sinh, coi nghiên cứu sinh là lực lượng nghiên cứu quan trọng trong đơn vị.

Bên cạnh đó, chính sách cũng thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng khi yêu cầu gắn kết luận án với thực tiễn, giải quyết các "điểm nghẽn" cụ thể của Thủ đô. Dự thảo Nghị quyết nếu được thông qua, sẽ giúp minh bạch hóa trách nhiệm và hiệu quả đầu tư ngân sách, khẳng định vai trò hạt nhân của các đại học trọng điểm, có uy tín trong việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Thủ đô.

thay-nguyen-anh-tuan.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn - Trưởng ban, Ban Đào tạo và Công tác sinh viên (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh website nhà trường.

Hơn nữa, việc áp dụng tiêu chuẩn nghiên cứu sinh phải công bố kết quả nghiên cứu dưới dạng bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế có uy tín (Q1, Q2) không chỉ giúp chất lượng luận án tiến sĩ của các trường đại học Việt Nam tiệm cận với trình độ thế giới mà còn đảm bảo tính khách quan, minh bạch trong đánh giá kết quả đào tạo. Đặc biệt, yêu cầu gắn đề tài luận án với "bài toán điểm nghẽn" của thành phố sẽ giúp hạn chế tình trạng nghiên cứu "xếp ngăn kéo", khuyến khích các đề tài luận án tiến sĩ gắn với giải quyết các vấn đề đặt ra cho sự phát triển của Hà Nội.

Từ góc độ cơ sở giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội và các cơ sở đào tạo trọng điểm đã có sẵn hệ sinh thái nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế và mạng lưới liên kết với các trường đại học trên thế giới có uy tín, từ đó giúp nghiên cứu sinh dễ dàng tiếp cận phương pháp luận hiện đại.

Song, thầy Tuấn cũng cho rằng, chu kỳ công bố tại các tạp chí Q1, Q2 thường rất dài (khoảng từ 1-2 năm). Việc vừa phải đảm bảo tiến độ tốt nghiệp, vừa phải giải quyết các bài toán thực tiễn phức tạp của thành phố sẽ đặt ra thách thức lớn cho nghiên cứu sinh. Đối với các ngành khoa học tự nhiên, việc chuyển hóa kết quả thành cơ sở khoa học hay giải pháp cho những vấn đề thực tiễn là một thách thức lớn. Còn đối với lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, việc chuyển tải một số vấn đề đặc thù của Việt Nam sang các bài báo quốc tế đăng trên các tạp chí Q1, Q2 vẫn là một “nút thắt” cần có thời gian để tháo gỡ.

Hà Nội nên bổ sung những cơ chế, giải pháp gì để triển khai chính sách hiệu quả?

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn, cơ chế phối hợp giữa thành phố Hà Nội và các trường đại học cần được thiết kế hợp lý nhằm đảm bảo kết quả nghiên cứu được ứng dụng thực tiễn. Cụ thể, cơ chế phối hợp nên được xây dựng trên cơ sở chuyển dịch từ "hỗ trợ đào tạo" sang "đặt hàng bài toán thực tiễn".

Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội nên sớm hệ thống hóa và thường xuyên cập nhật "Danh mục bài toán Thủ đô". Trong đó, Sở Khoa học và Công nghệ thành phố phải đóng vai trò điều phối, định kỳ công bố các điểm nghẽn kỹ thuật và chính sách từ các sở, ngành và doanh nghiệp địa phương. Đây là dữ liệu đầu vào bắt buộc để nghiên cứu sinh và cơ sở đào tạo xây dựng đề cương luận án.

Bên cạnh đó, cần có sự tham gia chặt chẽ từ đơn vị tiếp nhận kết quả nghiên cứu, cơ chế phối hợp không chỉ dừng lại ở giữa Sở Khoa học và Công nghệ thành phố và các trường mà còn cả đơn vị tiếp nhận kết quả. Đơn vị tiếp nhận này tham gia ngay từ hội đồng đánh giá đề cương và có trách nhiệm xác nhận tính khả thi, hiệu quả thực tế của sản phẩm nghiên cứu trước khi nghiên cứu sinh bảo vệ.

Ngoài ra, thành phố cần cho phép nghiên cứu sinh tiếp cận hệ thống dữ liệu số (Big Data) của Thủ đô và các khu thử nghiệm chính sách (Sandbox). Các trường đại học cũng nên mở cửa hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm để cùng Thủ đô giải quyết các vấn đề liên ngành. Cơ chế này sẽ biến các cơ sở đào tạo thành "lab nghiên cứu" để nghiên cứu, đề xuất những giải pháp thực tiễn cho sự phát triển của Hà Nội.

nghien-cuu-sinh-vnu-1.jpg
Cơ chế phối hợp giữa thành phố Hà Nội và các trường đại học cần thiết kế hợp lý nhằm đảm bảo kết quả nghiên cứu được ứng dụng thực tiễn. Ảnh minh họa: Website Đại học Quốc gia Hà Nội.

Trong khi đó, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Hồng Sơn, bên cạnh tiêu chí về công bố khoa học, việc bảo đảm liêm chính học thuật đối với trường hợp bài báo được dùng để xét hỗ trợ nhưng sau đó bị gỡ do vi phạm cũng là vấn đề thành phố cần quan tâm. Bởi, đối với nhà khoa học, liêm chính học thuật là tối thượng, không thể xâm phạm.

Vì vậy, thành phố cần ban hành quy định cụ thể về vấn đề này, để khi xảy ra sẽ có cơ sở xử lý theo cơ chế nhất quán, nghiêm minh và dân chủ.

Về hoạt động thẩm định, nên tiến hành xác minh và có kết luận về vi phạm liêm chính học thuật, xác định cụ thể mức độ và thái độ vi phạm.

Đối với việc xử lý vi phạm, khi đã xác định được mức độ và thái độ vi phạm, cần tiến hành xử lý theo một số hình thức như: thu hồi toàn bộ hoặc một phần tài chính hỗ trợ đối với cá nhân tiếp nhận hỗ trợ; thu hồi tư cách được nhận tài trợ của chương trình; đánh giá lại kết quả luận án; xem xét lại việc xét công nhận kết quả đào tạo; xử lý trách nhiệm cá nhân và tập thể theo các mức độ vi phạm cụ thể.

Cũng theo thầy Sơn, để thực hiện hiệu quả việc đào tạo 1.000 tiến sĩ giai đoạn 2026-2030, điều quan trọng là xử lý hài hòa mối quan hệ lợi ích và trách nhiệm của tất cả các bên liên quan gồm: thành phố Hà Nội, cơ sở giáo dục, nghiên cứu sinh và tổ chức, doanh nghiệp sử dụng sản phẩm (nhân lực, chính sách, giải pháp…).

Để đảm bảo điều này, ngoài hỗ trợ tài chính, cần có chiến lược và kế hoạch cụ thể, rõ ràng, chi tiết đến sản phẩm cuối cùng là giải pháp giải quyết các bài toán lớn hay từng hợp phần của bài toán lớn. Trong đó, cần phân tích cụ thể tỷ lệ các lĩnh vực khác nhau để đảm bảo sự phát triển hài hòa của thành phố trên tất cả các mặt: quản trị xã hội, phát triển kinh tế, cải thiện cơ sở hạ tầng, bảo vệ môi trường, gìn giữ và phát huy giá trị văn hiến…

Bên cạnh đó, có cơ chế vận hành chặt chẽ, minh bạch trong việc xác định quyền lợi và trách nhiệm của các bên liên quan.

Hơn nữa, nên xác định các cơ sở giáo dục đại học là đối tác chiến lược của thành phố để cùng hợp tác triển khai và đầu tư cho hệ thống cơ sở hạ tầng, cũng như các chính sách đối với các cơ sở giáo dục đại học.

Bùi Đào