Thu hút chuyên gia quốc tế và kiều bào về nước: Cần hỗ trợ về thuế và điều kiện ăn ở

15/04/2026 06:29
Đình Nam
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo đại diện một số trường ĐH, cần chính sách hỗ trợ về thuế thu nhập cá nhân và điều kiện ăn ở để thu hút chuyên gia quốc tế và kiều bào về làm việc.

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 530/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về giảng dạy, nghiên cứu và làm việc tại các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam.

Một trong những mục tiêu đến năm 2035 là thu hút 1.500 chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về làm việc, giảng dạy, nghiên cứu, hợp tác thường xuyên hoặc cộng tác từ xa với các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam. Nội dung này đang nhận được sự quan tâm đặc biệt từ các cơ sở giáo dục đại học trên cả nước.

Nhà trường chủ động đưa ra nhiều chính sách ưu đãi thu hút nhân tài về làm việc

Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Yêm - Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội nhấn mạnh, nhà trường từ lâu đã nhận thức rõ về sự cần thiết và tầm quan trọng của việc thu hút, tuyển dụng chuyên gia, nhà khoa học, giảng viên là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về giảng dạy, nghiên cứu và làm việc.

Theo thầy Yêm, ngay từ năm 2021, Đại học Bách khoa Hà Nội đã triển khai đề án thu hút, tuyển dụng giảng viên có thành tích nghiên cứu xuất sắc, hướng tới hình thành đội ngũ giảng viên có năng lực công bố quốc tế mạnh, có khả năng dẫn dắt các nhóm nghiên cứu.

Kết quả bước đầu cho thấy hiệu quả rõ rệt khi trong giai đoạn từ tháng 6/2021 đến tháng 10/2025, nhà trường đã tuyển dụng được 14 giảng viên có thành tích nghiên cứu khoa học xuất sắc.

thay-yem-bach-khoa.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Yêm - Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh: website nhà trường

Trong bối cảnh mới, khi Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo được ban hành, từ tháng 11/2025, Đại học Bách khoa Hà Nội tiếp tục đẩy mạnh chiến lược này thông qua việc triển khai Đề án HUST-TALENT.

Đây là chương trình có quy mô và tầm nhìn rộng hơn, hướng tới thu hút tiến sĩ trẻ tài năng, các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia công nghệ trong và ngoài nước, bao gồm cả người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài, đến làm việc lâu dài hoặc hợp tác nghiên cứu.

Theo đó, đối tượng tuyển dụng đầu tiên là tiến sĩ trẻ không phân biệt quốc tịch tốt nghiệp từ các cơ sở giáo dục hàng đầu thế giới hoặc có thành tích nghiên cứu nổi bật.

Thứ hai là các giáo sư, phó giáo sư hoặc là chuyên gia công nghệ trong các doanh nghiệp công nghệ, cơ quan nghiên cứu phát triển, công ty start-up, spin-off không phân biệt quốc tịch có mong muốn làm việc lâu dài tại Đại học Bách khoa Hà Nội.

Thứ ba là các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý, cán bộ lãnh đạo có uy tín, kinh nghiệm, thành tích nổi bật đang công tác tại các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, tập đoàn lớn, các tổ chức quốc tế, cơ quan nhà nước và mong muốn hợp tác, cộng tác làm việc với Đại học Bách khoa Hà Nội.

“Để thu hút và giữ chân các nhân tài này, nhà trường đã triển khai nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi về tiền lương, tiền thưởng. Trước hết, các ứng viên được đảm bảo điều kiện làm việc thuận lợi, được tiếp cận và khai thác hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy.

Trong ba năm đầu tiên, họ được hưởng mức lương và chế độ đãi ngộ theo thỏa thuận, gắn với hiệu quả công việc thông qua hệ thống đánh giá KPI, áp dụng mô hình trả lương theo 3P (vị trí công việc, năng lực cá nhân và hiệu quả thực hiện). Bên cạnh đó, họ có cơ hội trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn học viên cao học và nghiên cứu sinh trong môi trường học thuật năng động với đội ngũ sinh viên giỏi, tài năng.

Ngoài các yếu tố về học thuật và tài chính, nhà trường cũng đặc biệt chú trọng đến các chính sách hỗ trợ toàn diện, tạo điều kiện thuận lợi cho chuyên gia yên tâm làm việc lâu dài.

Cụ thể, các giảng viên, chuyên gia quốc tế hoặc người Việt Nam ở nước ngoài được hỗ trợ chi phí đi lại, lưu trú, thủ tục pháp lý, visa và xuất nhập cảnh; đồng thời được hưởng các gói phúc lợi bổ sung như bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tai nạn cho bản thân và gia đình, cùng nhiều chế độ ưu đãi khác tùy theo vị trí đảm nhiệm.

Như vậy, Đại học Bách khoa Hà Nội đã và đang chủ động triển khai việc thu hút, tuyển dụng giảng viên, chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về giảng dạy, nghiên cứu và cộng tác với nhiều chính sách đột phá như trả lương theo thỏa thuận tiệm cận các nước trong khu vực và tạo môi trường làm việc tốt cho họ phát triển”, Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Yêm bày tỏ.

Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Cảnh Thái - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi cho biết, sau khi Chính phủ ban hành chương trình thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về làm việc, nhà trường cũng đã chủ động đặt ra những định hướng và chính sách bước đầu để tiếp cận nguồn nhân lực này. Tuy nhiên, việc triển khai trên thực tế vẫn còn nhiều khó khăn.

Thầy Thái cho biết, nhà trường đã xây dựng một số cơ chế chung, trong đó có việc tạo điều kiện để các giáo sư, chuyên gia nước ngoài tham gia giảng dạy kết hợp nghiên cứu, đồng thời bước đầu đề cập đến các chế độ đãi ngộ. Dù vậy, nguồn kinh phí của trường hiện còn hạn chế nên chưa thể chủ động thu hút chuyên gia về làm việc chính thức với mức lương cạnh tranh, mà chủ yếu vẫn dựa vào các mối quan hệ cá nhân và các chương trình hợp tác sẵn có.

canh-thai-chuan.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Cảnh Thái - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi. Ảnh: website nhà trường

“Phần lớn các chuyên gia nước ngoài đến làm việc với Trường Đại học Thủy lợi hiện nay là thông qua các dự án hợp tác hoặc có sẵn nguồn kinh phí từ phía đối tác. Nhà trường đóng vai trò phối hợp, mời họ sang tham gia nghiên cứu và giảng dạy trong thời gian ngắn.

Việc trả lương cho chuyên gia làm việc dài hạn hoặc chi trả toàn bộ chi phí như mô hình của các trường đại học tại Nhật Bản, Hàn Quốc hay một số cơ sở có tiềm lực mạnh trong nước hiện vẫn chưa thể thực hiện. Thay vào đó, hướng đi khả thi nhất của trường lúc này là thông qua hợp tác nghiên cứu: các bên cùng xây dựng đề tài, tận dụng nguồn kinh phí nghiên cứu để mời chuyên gia tham gia, từ đó kết hợp giữa nghiên cứu và giảng dạy”, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi chia sẻ.

Cần xây dựng môi trường học thuật tốt và có cơ chế ưu đãi thuế phù hợp

Cùng trao đổi về các giải pháp thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về làm việc, Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, trong giai đoạn trước, việc mời và ký kết hợp đồng với giảng viên, chuyên gia nước ngoài gặp không ít trở ngại do vướng mắc về thủ tục hành chính. Đồng thời, mức đãi ngộ khi đó chưa đủ hấp dẫn để cạnh tranh, khiến việc thu hút và giữ chân các chuyên gia quốc tế làm việc lâu dài còn nhiều hạn chế.

Tuy nhiên, khi cơ chế tự chủ - đặc biệt là tự chủ trong hoạt động nghiên cứu khoa học, từng bước được mở rộng, các cơ sở giáo dục đại học đã có điều kiện thuận lợi hơn trong việc phát triển hợp tác với doanh nghiệp, qua đó thu hút thêm nhiều dự án nghiên cứu. Nguồn lực này tạo tiền đề để tăng cường đầu tư cho đội ngũ quốc tế, đồng thời mở rộng cơ hội tiếp nhận các nhà khoa học, chuyên gia nước ngoài đến làm việc và hợp tác.

“Trong thời gian tới, để hiện thực hóa mục tiêu thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, điều cốt lõi là phải đẩy mạnh cơ chế tự chủ đại học. Những điều chỉnh chính sách gần đây, như quy định về giảng viên đồng cơ hữu, hay mở rộng khả năng bổ nhiệm chuyên gia, giảng viên là người nước ngoài, đã tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho các cơ sở giáo dục.

Tuy nhiên, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở chính sách hay chế độ đãi ngộ, mà quan trọng hơn là xây dựng được một môi trường làm việc thực sự hấp dẫn, tiệm cận với tiêu chuẩn quốc tế - nơi các nhà khoa học có thể phát huy năng lực, thấy rõ giá trị đóng góp của mình và được tạo điều kiện để cống hiến lâu dài.

Bên cạnh đó, các yếu tố về thu nhập, tiền lương, thù lao vẫn cần được quan tâm và đảm bảo ở mức cạnh tranh, song nên được xem là điều kiện hỗ trợ đi kèm.

Khi môi trường học thuật đủ tốt, minh bạch, có cơ hội phát triển và ghi nhận xứng đáng, thì chính những giá trị đó mới là động lực bền vững để thu hút và giữ chân các chuyên gia, nhà khoa học quốc tế cũng như người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào hệ thống giáo dục đại học trong nước”, Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình nhấn mạnh.

582953839-1302193715041438-3025867745716595540-n.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: website nhà trường

Trong khi đó, Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Yêm cho rằng việc thiết kế các cơ chế thuế thu nhập cá nhân mang tính đặc thù, linh hoạt dành cho chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài cũng như người Việt Nam ở nước ngoài về nước làm việc là hết sức cần thiết.

Theo Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, nếu không có những ưu đãi thuế phù hợp, các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam sẽ gặp bất lợi trong cạnh tranh thu hút nhân lực chất lượng cao so với các trung tâm giáo dục - nghiên cứu trong khu vực như Singapore, Malaysia hay Hồng Kông (Trung Quốc), nơi đã và đang áp dụng nhiều chính sách thuế hấp dẫn đối với chuyên gia quốc tế.

Thầy Yêm phân tích, trong bối cảnh nguồn nhân lực trình độ cao có tính di động toàn cầu, các chuyên gia thường không chỉ quan tâm đến mức lương danh nghĩa mà còn so sánh tổng thu nhập thực nhận sau thuế giữa các quốc gia. Do đó, việc áp dụng cơ chế như ưu đãi thuế suất thấp hơn trong một khoảng thời gian nhất định, chẳng hạn trong 1-3 năm đầu làm việc, hoặc cơ chế “gross-up” - tức đơn vị sử dụng lao động chi trả thay phần thuế thu nhập cá nhân - sẽ giúp nâng cao mức thu nhập thực nhận, qua đó tăng sức cạnh tranh và tạo dư địa linh hoạt hơn cho các cơ sở giáo dục trong quá trình đàm phán, thu hút và giữ chân nhân tài.

“Các chính sách ưu đãi thuế cần được thiết kế một cách thận trọng, bảo đảm sự hài hòa với hệ thống chính sách hiện hành trong nước. Việc ưu đãi cần tránh tạo ra khoảng cách quá lớn so với đội ngũ giảng viên, nhà khoa học trong nước, từ đó hạn chế những tác động tiêu cực về tâm lý so sánh.

Đồng thời, các cơ chế này phải phù hợp với khung pháp lý của Luật Thuế thu nhập cá nhân, không làm phá vỡ cấu trúc chung của hệ thống chính sách, và cần được xây dựng trên cơ sở minh bạch, có tiêu chí rõ ràng, có thể kiểm soát và đánh giá hiệu quả.

Việc áp dụng các cơ chế thuế thu nhập cá nhân linh hoạt như ưu đãi thuế suất, miễn giảm có thời hạn hay “gross-up” là hướng đi hợp lý và cần thiết, nhưng phải được triển khai theo hướng có mục tiêu, có kiểm soát và cân bằng. Chính sách cần đạt được hai yêu cầu song song: đủ sức hấp dẫn trong cạnh tranh quốc tế, đồng thời vẫn bảo đảm nguyên tắc công bằng và sự ổn định của hệ thống chính sách trong nước”, Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Yêm nói thêm.

bia-1.jpg
Chuyên gia nước ngoài tới giảng dạy, nghiên cứu và làm việc tại Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh: website nhà trường

Cũng theo thầy Yêm, Đại học Bách khoa Hà Nội đã và đang chủ động xây dựng, cập nhật và triển khai đồng bộ nhiều quy định, giải pháp nhằm tạo dựng môi trường làm việc, nghiên cứu hiện đại, tiệm cận chuẩn mực quốc tế và đủ sức cạnh tranh trong thu hút nhân tài. Trọng tâm là đầu tư hệ thống phòng thí nghiệm, trang thiết bị tiên tiến; thiết lập cơ chế cấp kinh phí nghiên cứu ban đầu và hỗ trợ tiếp cận linh hoạt các quỹ trong, ngoài nước, giúp các nhà khoa học, đặc biệt là tiến sĩ trẻ, nhanh chóng triển khai đề tài.

Ngoài ra, nhà trường áp dụng cơ chế học thuật thông thoáng với mức độ tự chủ cao trong nghiên cứu và giảng dạy, đánh giá theo các sản phẩm khoa học quốc tế, khuyến khích hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm xuất sắc và mô hình hợp tác hỗn hợp giữa trong nước - quốc tế, giữa đại học - doanh nghiệp.

Không những vậy, các chính sách hỗ trợ được thiết kế toàn diện nhằm giảm gánh nặng hành chính, kỹ thuật và tạo điều kiện thuận lợi cho chuyên gia yên tâm làm việc, từ hỗ trợ nhân lực nghiên cứu, thủ tục pháp lý, chi phí đi lại, lưu trú đến xây dựng lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng và các gói phúc lợi đi kèm.

Nhà trường cũng đẩy mạnh quốc tế hóa môi trường học thuật thông qua giảng dạy bằng tiếng Anh, mở rộng hợp tác với các đối tác uy tín, xây dựng văn hóa nghiên cứu cởi mở, minh bạch và kết nối sâu với mạng lưới học thuật toàn cầu. Cùng với đó là cơ chế hợp tác linh hoạt, cho phép chuyên gia tham gia dưới nhiều hình thức với các hợp đồng gắn với mục tiêu, sản phẩm cụ thể.

Góp ý thêm về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Cảnh Thái khẳng định rằng để thu hút hiệu quả đội ngũ chuyên gia quốc tế, cần có một cơ chế tổng thể từ phía Nhà nước.

Trước hết, cần xác lập rõ ràng một nguồn kinh phí riêng để các trường đại học có thể chủ động đề xuất và “đặt hàng” chuyên gia theo nhu cầu phát triển. Các bộ, ngành như Bộ Khoa học và Công nghệ hay Bộ Giáo dục và Đào tạo cần xây dựng tiêu chí, cơ chế chung để các cơ sở đào tạo tham gia. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ chính, còn các trường có thể đối ứng trong khả năng của mình.

Theo thầy Thái, với điều kiện hiện tại, các trường đại học công lập như Trường Đại học Thủy lợi khó có thể tự chi trả mức đãi ngộ tương đương quốc tế, do đó sự hỗ trợ từ Nhà nước là yếu tố then chốt để hiện thực hóa mục tiêu thu hút và giữ chân các nhà khoa học chất lượng cao.

Đình Nam