Trong bài báo này, SARAP tiến hành phân tích và xếp hạng thành tựu nghiên cứu khoa học của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam dựa trên các công bố khoa học được trong năm 2025 trên các tạp chí được chỉ mục trong Cơ sở dữ liệu Web of Science của Hoa Kỳ.
Kết quả thống kê cho thấy, trong tổng số 264 cơ sở giáo dục đại học trên cả nước, có 72 cơ sở giáo dục đại học đủ điều kiện được đưa vào bảng xếp hạng của đợt đánh giá này. Do xuất hiện các trường hợp trùng hạng, bảng xếp hạng ghi nhận tổng cộng 62 thứ hạng. Kết quả xếp hạng là một kênh thông tin tham khảo phục vụ cộng đồng học thuật, các cơ quan quản lý và các bên liên quan trong việc theo dõi và đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam.
Xếp hạng SARAP Ranking 2025 về số bài báo nghiên cứu WoS
Trong thời gian qua, Bộ Chính trị đã ban hành hai nghị quyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và mang tính chiến lược đối với sự phát triển nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và giáo dục – đào tạo của Việt Nam, gồm: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; và Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Hai nghị quyết này đã tạo ra khuôn khổ định hướng và động lực chính sách mạnh mẽ, qua đó thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học tại các cơ sở giáo dục đại học theo hướng bài bản, chuyên nghiệp, bền vững và hội nhập sâu hơn với các chuẩn mực quốc tế.
Trong bối cảnh đó, hoạt động nghiên cứu khoa học tại nhiều cơ sở giáo dục đại học Việt Nam đã có những chuyển biến rõ nét, cả về quy mô, chất lượng công bố, năng lực tổ chức nghiên cứu, cũng như mức độ gắn kết giữa nghiên cứu với đào tạo, đổi mới sáng tạo và phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Đặc biệt, liên quan đến xếp hạng đại học, không ít cơ sở giáo dục đại học đã và đang triển khai một cách quyết liệt các nội dung có liên quan trực tiếp đến hai nghị quyết nêu trên, coi xếp hạng đại học như một công cụ đối sánh nhằm phản ánh năng lực nghiên cứu, quản trị và mức độ hội nhập của cơ sở giáo dục đại học.
Thực tế cho thấy, một số cơ sở giáo dục đại học đã đưa mục tiêu cải thiện vị thế trên các bảng xếp hạng đại học quốc tế và khu vực vào các nghị quyết, chiến lược hoặc kế hoạch phát triển trung hạn và dài hạn của đơn vị. Điều này cho thấy cách tiếp cận đối với vai trò của xếp hạng đại học đang dần chuyển từ cách tiếp cận hình thức sang tiếp cận chiến lược, gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng thực chất, hiệu quả đầu tư và trách nhiệm giải trình trong hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo.
Nhóm nghiên cứu Đo lường khoa học và Chính sách quản trị nghiên cứu (SARAP) của Trường Đại học Văn Lang được thành lập và hoạt động chuyên sâu trong lĩnh vực đo lường khoa học, bao gồm cả chiến lược xếp hạng đại học, và nghiên cứu chính sách quản trị nghiên cứu. Từ khi thành lập đến nay, SARAP đã hoàn thành 23 kết quả nghiên cứu chiến lược trong các lĩnh vực này; các kết quả đã được chuyển giao và triển khai vào thực tiễn quản trị nghiên cứu và xây dựng chiến lược xếp hạng đại học, qua đó đã tạo ra 16 sản phẩm công nghệ mềm dưới dạng chính sách, quy định và khung quản trị nghiên cứu, cùng với 50 sản phẩm tri thức và/hoặc sản phẩm danh tiếng học thuật thông qua bài báo đại chúng liên quan đến SARAP trên các kênh truyền thông chính thống của Việt Nam.
Bên cạnh đó, SARAP đã công bố các kết quả xếp hạng thành tựu nghiên cứu của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam, tập trung vào thành tựu bài báo nghiên cứu và hiệu suất công bố khoa học trong năm 2024 (SARAP24-0.5, MQ24, SARAP24-0.5E, THI24, SARAP24, SARAP24.E) và nửa đầu năm 2025 (TT SARAP25-0.5, TT25, VOV2.25, MOET25, SARAP25-0.5E).
Tiếp tục các kết quả xếp hạng do SARAP đã thực hiện về thành tựu bài báo nghiên cứu cho các cơ sở giáo dục đại học năm 2024 và nửa đầu năm 2025, bài báo này tập trung phân tích và xếp hạng thành tựu bài báo nghiên cứu năm 2025 của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam, dựa trên các công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế uy tín được chỉ mục trong Cơ sở dữ liệu Web of Science (WoS) của Hoa Kỳ (ký hiệu: SARAP Ranking 2025).
Phương pháp và dữ liệu
Theo dữ liệu từ WoS, hệ thống này thống kê tổng cộng 35 loại hình sản phẩm khoa học khác nhau, trong đó loại hình có mức độ uy tín cao nhất là article, tức các bài báo nghiên cứu được công bố trên 22.946 tạp chí khoa học được WoS chỉ mục. Trên cơ sở đó, SARAP Ranking 2025 chỉ xem xét thành tựu bài báo nghiên cứu WoS của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trong năm 2025; đồng thời, chỉ những cơ sở giáo dục đại học có ít nhất 40 bài báo nghiên cứu WoS trong năm 2025 mới được đưa vào xếp hạng. Cơ sở khoa học cho việc xác lập tiêu chí này đã được trình bày chi tiết trong SARAP Ranking 2024 (SARAP24).
Dữ liệu được truy xuất trực tiếp từ WoS vào lúc 13 giờ 10 phút ngày 24/01/2026. Do tên tiếng Anh của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam được ghi nhận trong WoS có thể có nhiều biến thể khác nhau nên phương pháp quét dữ liệu theo tổ hợp các biến thể tên tiếng Anh cho cùng một cơ sở giáo dục đại học đã được áp dụng nhằm bảo đảm tính đầy đủ và độ chính xác của dữ liệu (SARAP24). Một lưu ý quan trọng là dữ liệu được truy xuất từ dữ liệu WoS có thể khác nhau giữa các thời điểm truy xuất, dù mức độ chênh lệch thường không lớn; trong một số trường hợp, sự sai khác có thể được tính bằng giây do WoS được cập nhật tự động và liên tục.
Theo kết quả thống kê, trong năm 2025, Việt Nam công bố tổng cộng 14.880 bài báo nghiên cứu WoS, tăng khoảng 18,63% so với năm 2024, và chiếm xấp xỉ 0,53% tổng sản lượng bài báo nghiên cứu tương ứng của toàn thế giới. Hai viện nghiên cứu quốc gia chủ lực của Việt Nam công bố tổng cộng 1.460 bài báo nghiên cứu WoS, chiếm 9,81% tổng thành tựu của cả nước, trong đó viện chuyên về khoa học và công nghệ đóng góp 1.410 bài, còn viện chuyên về khoa học xã hội công bố 50 bài. Các số liệu này cho thấy phần lớn thành tựu bài báo nghiên cứu WoS của Việt Nam trong năm 2025 đến từ các cơ sở giáo dục đại học.
Mặc dù trong thời gian gần đây Việt Nam có thêm một số cơ sở giáo dục đại học mới được thành lập, song nhìn chung các cơ sở này chưa ghi nhận đóng góp đáng kể vào thành tựu bài báo nghiên cứu WoS của cả nước. Do đó, số lượng cơ sở giáo dục đại học Việt Nam được xem xét trong SARAP Ranking 2025 vẫn được xác định là 264 cơ sở, tương tự như trong (LA25).
Kết quả SARAP Ranking 2025
Với phương pháp và dữ liệu đã trình bày ở trên, kết quả SARAP Ranking 2025 cho thấy trong tổng số 264 cơ sở giáo dục đại học được xem xét, có 72 cơ sở giáo dục đại học (chiếm 27,27%) đủ điều kiện được đưa vào bảng xếp hạng đợt này. Do xuất hiện các trường hợp trùng hạng, bảng xếp hạng ghi nhận 62 thứ hạng, phản ánh mức độ phân hóa rõ rệt về quy mô và tỷ trọng công bố khoa học trong tổng thể thành tựu giữa các cơ sở giáo dục đại học.
Xét riêng tốp 10 SARAP Ranking 2025, đây là nhóm các cơ sở giáo dục đại học giữ vai trò hạt nhân trong hệ thống nghiên cứu khoa học quốc gia, với số lượng bài báo nghiên cứu WoS và tỷ trọng đóng góp vượt trội so với phần còn lại. Các cơ sở trong tốp 10 chủ yếu là hai đại học quốc gia, năm đại học, một trường đại học định hướng nghiên cứu và các cơ sở đào tạo chuyên ngành có thế mạnh rõ rệt (đặc biệt là lĩnh vực Y học), cho thấy sự tập trung cao về nguồn lực, đội ngũ và năng lực tổ chức nghiên cứu. Việc các cơ sở trong nhóm này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thành tựu bài báo nghiên cứu WoS của cả nước có thể phản ánh vai trò hạt nhân của tốp đầu đối với năng lực nghiên cứu chung của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Ở phạm vi rộng hơn, tốp 20 SARAP Ranking 2025 thể hiện rõ tính cạnh tranh và sự dịch chuyển thứ hạng giữa các cơ sở giáo dục đại học. Nhiều cơ sở trong nhóm này có số lượng bài báo nghiên cứu WoS tiệm cận nhau, khiến vị trí xếp hạng có thể thay đổi đáng kể theo từng năm, tùy thuộc vào tốc độ gia tăng công bố khoa học và khả năng duy trì hiệu suất nghiên cứu ổn định. Đây cũng là nhóm phản ánh rõ nhất tác động của các chiến lược nghiên cứu trung hạn, khi ranh giới giữa tốp 10 và tốp 20 không hoàn toàn cố định mà mang tính biến thiên theo thời gian.
Ở nhóm giữa và nhóm cuối bảng xếp hạng, số lượng bài báo nghiên cứu WoS có xu hướng giảm dần và khoảng cách giữa các hạng thu hẹp, cho thấy hoạt động nghiên cứu khoa học đã lan tỏa tới nhiều loại hình cơ sở giáo dục đại học khác nhau. Tuy nhiên, ở các nhóm này vẫn có thể tồn tại những hạn chế nhất định về quy mô đội ngũ, điều kiện nghiên cứu và năng lực quản trị nghiên cứu khoa học, qua đó đặt ra yêu cầu về các chính sách hỗ trợ theo hướng phân tầng và các chiến lược phát triển nghiên cứu phù hợp với đặc thù của từng nhóm cơ sở.
So với SARAP Ranking 2024, bảng xếp hạng SARAP Ranking 2025 ghi nhận sự thay đổi về thành phần các cơ sở giáo dục đại học được xếp hạng. Trong đó, một số cơ sở giáo dục đại học lần đầu xuất hiện trong bảng xếp hạng năm 2025, đồng thời cũng có một số ít cơ sở giáo dục đại học không còn được ghi nhận trong đợt xếp hạng này. Ngoài ra, nhiều vị trí thứ hạng cũng đã có sự thay đổi, hoặc tăng lên hoặc giảm xuống. Điều này là rất bình thường và là thuộc tính vốn có của các hệ thống xếp hạng. Những biến động này cho thấy một bộ phận cơ sở giáo dục đại học ngoài nhóm đã ổn định từ các năm trước bắt đầu đạt được quy mô công bố quốc tế đủ lớn để được ghi nhận, đồng thời phản ánh tính biến thiên và khả năng dịch chuyển vị thế giữa các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam qua từng năm xếp hạng.
Dưới đây là kết quả SARAP Ranking 2025 của 72 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam cùng với tỷ trọng đóng góp vào thành tựu bài báo nghiên cứu WoS chung của đất nước năm 2025.
| Hạng | Tên cơ sở giáo dục đại học | WoS | Tỷ trọng |
| 1 | Đại học Quốc gia TP.HCM | 1.965 | 13,21% |
| 2 | Đại học Quốc gia Hà Nội | 1.196 | 8,04% |
| 3 | Đại học Duy Tân | 910 | 6,12% |
| 4 | Đại học Bách khoa Hà Nội | 836 | 5,62% |
| 5 | Trường Đại học Tôn Đức Thắng | 573 | 3,85% |
| 6 | Đại học Cần Thơ | 565 | 3,80% |
| 7 | Trường Đại học Y Dược TP.HCM | 526 | 3,53% |
| 8 | Trường Đại học Y Hà Nội | 499 | 3,35% |
| 9 | Đại học Phenikaa | 497 | 3,34% |
| 10 | Đại học Huế | 487 | 3,27% |
| 11 | Đại học Kinh tế TP.HCM | 483 | 3,25% |
| 12 | Trường Đại học Nguyễn Tất Thành | 462 | 3,10% |
| 13 | Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM | 445 | 2,99% |
| 14 | Trường Đại học Văn Lang | 424 | 2,85% |
| 15 | Đại học Đà Nẵng | 418 | 2,81% |
| 16 | Trường Đại Học Công nghệ Kỹ Thuật TP. HCM | 390 | 2,62% |
| 17 | Đại học Thái Nguyên | 370 | 2,49% |
| 18 | Đại học Kinh tế Quốc dân | 308 | 2,07% |
| 19 | Trường Đại học FPT | 298 | 2,00% |
| 20 | Trường Đại học VinUni | 284 | 1,91% |
| 21 | Trường Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn | 271 | 1,82% |
| 22 | Đại học Công nghiệp Hà Nội | 270 | 1,81% |
| 23 | Trường Đại học Công nghệ TP.HCM | 247 | 1,66% |
| 24 | Học viện Nông nghiệp Việt Nam | 221 | 1,49% |
| 25 | Trường Đại học Thủy lợi | 210 | 1,41% |
| 26 | Trường Đại học Mở TP.HCM | 209 | 1,40% |
| 27 | Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM | 199 | 1,34% |
| 28 | Trường Đại học Công thương TP.HCM | 187 | 1,26% |
| 29 | Trường Đại học Y Dược Cần Thơ | 164 | 1,10% |
| 30 | Trường Đại học Giao thông Vận tải | 161 | 1,08% |
| 31 | Trường Đại học Sư phạm Hà Nội | 142 | 0,95% |
| 31 | Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông | 142 | 0,95% |
| 31 | Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội | 142 | 0,95% |
| 32 | Trường Đại học Xây dựng Hà Nội | 140 | 0,94% |
| 33 | Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch | 136 | 0,91% |
| 33 | Trường Đại học Vinh | 136 | 0,91% |
| 34 | Trường Đại học Sư phạm TP.HCM | 130 | 0,87% |
| 35 | Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM | 124 | 0,83% |
| 36 | Trường Đại học Thủ Dầu Một | 114 | 0,77% |
| 37 | Học viện Quân y | 113 | 0,76% |
| 38 | Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai | 109 | 0,73% |
| 38 | Trường Đại học Nha Trang | 109 | 0,73% |
| 39 | Trường Đại học Điện lực | 106 | 0,71% |
| 40 | Trường Đại học Sài Gòn | 102 | 0,69% |
| 41 | Trường Đại học Thương mại | 101 | 0,68% |
| 42 | Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải | 92 | 0,62% |
| 43 | Trường Đại học Giao thông Vận tải TP.HCM | 89 | 0,60% |
| 44 | Trường Đại học Mỏ – Địa chất | 88 | 0,59% |
| 45 | Trường Đại học Ngoại thương | 84 | 0,56% |
| 45 | Trường Đại học Dược Hà Nội | 84 | 0,56% |
| 46 | Trường Đại học Hàng hải Việt Nam | 82 | 0,55% |
| 47 | Trường Đại học Tài chính – Marketing | 80 | 0,54% |
| 48 | Trường Đại học Nam Cần Thơ | 77 | 0,52% |
| 49 | Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên | 76 | 0,51% |
| 50 | Trường Đại học Đồng Tháp | 70 | 0,47% |
| 50 | Trường Đại học Y Dược Hải Phòng | 70 | 0,47% |
| 51 | Trường Đại học Hồng Đức | 69 | 0,46% |
| 52 | Trường Đại học Y tế Công cộng | 61 | 0,41% |
| 53 | Trường Đại học Quy Nhơn | 58 | 0,39% |
| 54 | Học viện Ngân hàng | 57 | 0,38% |
| 54 | Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội | 57 | 0,38% |
| 54 | Trường Đại học Tây Nguyên | 57 | 0,38% |
| 55 | Trường Đại học Việt Đức | 56 | 0,38% |
| 56 | Trường Đại học Y Dược Thái Bình | 54 | 0,36% |
| 57 | Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 | 53 | 0,36% |
| 57 | Trường Đại học Thăng Long | 53 | 0,36% |
| 58 | Trường Đại học Đà Lạt | 52 | 0,35% |
| 59 | Trường Đại học Lạc Hồng | 48 | 0,32% |
| 60 | Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long | 47 | 0,32% |
| 61 | Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội | 46 | 0,31% |
| 62 | Trường Đại học Luật TP.HCM | 40 | 0,27% |
| 62 | Trường Đại học Trà Vinh | 40 | 0,27% |
SARAP Ranking 2025.
Thay lời kết
Các kết quả của SARAP Ranking 2025 trước hết phản ánh thành tựu về số lượng bài báo nghiên cứu WoS của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trong năm 2025. Tuy nhiên, cần khẳng định rằng xếp hạng và số lượng công bố khoa học không phải là đích đến, mà chỉ đóng vai trò các chỉ dấu ban đầu nhằm nhận diện năng lực nghiên cứu và xu hướng phát triển nghiên cứu của từng cơ sở trong bối cảnh hội nhập học thuật quốc tế ngày càng sâu rộng.
Xếp hạng dựa trên thành tựu về số lượng bài báo nghiên cứu WoS có thể chưa phản ánh đầy đủ mức độ công bằng giữa các cơ sở giáo dục đại học. Trên cơ sở SARAP Ranking 2025, cần tiếp tục xem xét đối sánh hiệu suất công bố thông qua tỷ lệ giữa tổng số giảng viên và số bài báo nghiên cứu WoS của từng cơ sở giáo dục đại học.
Giá trị cốt lõi và bền vững của hoạt động nghiên cứu khoa học chỉ thực sự được hình thành khi các kết quả nghiên cứu xuất phát từ nội lực và được tổ chức chuyển giao hiệu quả, qua đó góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng đào tạo, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và củng cố danh tiếng học thuật thực chất của mỗi cơ sở (Ut24.1, Ut24.2, Ut24.3). Việc chuyển giao nhằm tạo dựng nội lực nghiên cứu thực chất không chỉ là yêu cầu chuyên môn thuần túy, mà còn là trách nhiệm trực tiếp của từng cơ sở giáo dục đại học trong quá trình phát triển dài hạn.
Quan điểm này phù hợp với tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó nhấn mạnh yêu cầu phát triển nghiên cứu khoa học theo hướng bền vững, nghĩa là yêu cầu tối thiểu phải đảm bảo liêm chính nghiên cứu.
Ngoài ra, Quốc hội đã ban hành Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 ngày 27/06/2025, và Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 262/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo về thông tin, thống kê, đánh giá, chuyển đổi số và các vấn đề chung, trong đó có riêng điều khoản quy định rõ về liêm chính nghiên cứu. Theo đó, bất kỳ sự gia tăng nào về số lượng công bố khoa học nếu không đi kèm với liêm chính nghiên cứu, chất lượng khoa học và năng lực chuyển hóa thành giá trị thực tiễn đều tiềm ẩn rủi ro gây lãng phí nguồn lực, dẫn đến suy giảm uy tín học thuật và nội lực dài hạn của hệ thống.
Vì vậy, trong việc tiếp cận và diễn giải các kết quả xếp hạng như SARAP Ranking 2025, các cơ sở giáo dục đại học cần đặt thành tựu xếp hạng trong mối quan hệ hữu cơ và tương thích với nội lực nghiên cứu thực chất.
Chỉ khi các chỉ số về số lượng công bố khoa học, vị thế xếp hạng, liêm chính nghiên cứu và năng lực chuyển giao được phát triển đồng bộ và nhất quán, hoạt động nghiên cứu khoa học mới thực sự trở thành nền tảng bền vững cho sự phát triển của từng cơ sở giáo dục đại học và của toàn bộ hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Cảm tạ: Tác giả xin chân thành cảm ơn ThS. Trịnh Minh Tuấn, ThS. Thân Đức Dũng, ThS. Viên Vĩnh Phát và CN. Lê Đặng Hoài Phúc đã dành thời gian góp ý và đưa ra những nhận xét khoa học hữu ích cho bản thảo của bài báo này.
Tài liệu tham khảo
[SARAP25-0.5E] Lê Văn Út (2025); Xếp hạng hiệu suất thành tựu bài báo nghiên cứu của các CSGDĐH Việt Nam nửa đầu năm 2025; Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, 28/10/2025.
[MOET25] Báo cáo Hội nghị giáo dục đại học năm 2025; Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội, 18/09/2025.
[VOV2.25] Thu Lương (2025); Nhiều cơ sở giáo dục ĐH bứt phá về số lượng bài báo khoa học; Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV2), 06/08/2025.
[TT25] Mỹ Dung (2025); ĐH Quốc gia TP.HCM dẫn đầu bảng xếp hạng SARAP về thành tựu bài báo nghiên cứu nửa đầu năm 2025; Tuổi Trẻ, Thành Đoàn TP.HCM, 04/08/2025.
[SARAP25-0.5] Lê Văn Út (2025); Xếp hạng thành tựu bài báo nghiên cứu của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam nửa đầu năm 2025; Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, 30/07/2025.
[SARAP24.E] Lê Văn Út (2025); Xếp hạng hiệu suất công bố bài báo nghiên cứu của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam năm 2024; Đại biểu Nhân dân, Văn phòng Quốc hội, 20/07/2025.
[TYPE25] Lê Văn Út & Thân Đức Dũng (2025); Phân loại bài báo khoa học và các đề xuất chiến lược về chính sách quản trị nghiên cứu liên quan; Số 7/2025/SARAP-BC, Nhóm Nghiên cứu SARAP, Trường Đại học Văn Lang, 16/06/2025.
[LA25] Linh An (2025); Những con số biết nói về giáo dục đại học Việt Nam; Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, 04/04/2025.
[SARAP24] Lê Văn Út (2025); Xếp hạng thành tựu bài báo nghiên cứu của các cơ sở GDĐH Việt Nam năm 2024; Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, 20/03/2025.
[THI24] Thi Thi (2024); Xếp hạng hiệu suất công bố khoa học của một số CSGDĐH nửa đầu năm 2024, Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, 14/12/2024.
[SARAP24-0.5E] Lê Văn Út (2024); Xếp hạng hiệu suất thành tựu bài báo nghiên cứu của các đại học Việt Nam trong nửa đầu năm 2024; Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ Khoa học & Công nghệ, 13/12/2024.
[MQ24] Mỹ Quyên (2024); Trường ĐH nào có nhiều nghiên cứu chuẩn quốc tế nhất trong 6 tháng đầu năm?; Thanh Niên, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, 25/07/2024.
[SARAP24-0.5] Lê Văn Út (2024); Xếp hạng thành tựu bài báo nghiên cứu của các đại học Việt Nam trong nửa đầu năm 2024; Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ Khoa học & Công nghệ, 17/07/2024.
[Ut24.3] Lê Văn Út (2024); 7 vấn đề và 6 giải pháp để khoa học công nghệ tạo ra tiền; Đại biểu Nhân dân, Văn phòng Quốc hội, 02/02/2024.
[Ut24.2] Lê Văn Út (2024); Ba loại sản phẩm khoa học công nghệ tạo ra tiền; Đại biểu Nhân dân, Văn phòng Quốc hội, 01/02/2024.
[Ut24.1] Lê Văn Út (2024); Làm thế nào để khoa học và công nghệ ra tiền?; Đại biểu Nhân dân, Văn phòng Quốc hội, 31/01/2024.
