Công nhận văn bằng nước ngoài: Học được gì từ kinh nghiệm quốc tế?

22/05/2026 09:33
Thi Thi
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Trong khi nhiều nền giáo dục tiên tiến đã chuyển sang mô hình kiểm soát chất lượng thay vì phê duyệt hành chính, dự thảo Thông tư công nhận văn bằng nước ngoài của Việt Nam đang đặt ra câu hỏi: liệu chúng ta có đang đi cùng xu hướng đó?

Dự thảo Thông tư quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam của Bộ Giáo dục và Đào tạo đang trong giai đoạn lấy ý kiến. Ghi nhận từ các chuyên gia giáo dục, dự thảo thể hiện nhiều điểm tích cực trong việc chuẩn hóa quy trình công nhận văn bằng và tăng cường tính minh bạch. Tuy nhiên, một số quy định liên quan đến điều kiện công nhận và thẩm quyền phê duyệt làm dấy lên băn khoăn về mức độ phù hợp với xu hướng quản trị đại học hiện đại, đặc biệt trong bối cảnh giáo dục xuyên biên giới và đào tạo trực tuyến đang phát triển mạnh.

Theo nhiều chuyên gia, câu hỏi đặt ra hiện nay không chỉ là "ai có thẩm quyền công nhận văn bằng", mà còn là cách xây dựng một cơ chế đủ tin cậy để vừa bảo đảm chất lượng, vừa không tạo thêm rào cản cho quá trình hội nhập học thuật quốc tế.

Khi công nhận văn bằng không còn dựa chủ yếu vào thủ tục hành chính

Để có thêm góc nhìn từ thực tiễn quốc tế, phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam đã có cuộc trao đổi với Giáo sư Trần Trọng Toàn - chuyên gia đang làm việc tại Đại học Công nghệ Sydney, Úc.

Giáo sư Toàn nhận định giáo dục đại học toàn cầu đang dịch chuyển mạnh mẽ theo hướng quốc tế hóa và liên thông học thuật, vì thế, cơ chế công nhận văn bằng cũng cần thay đổi theo hướng hiện đại, linh hoạt hơn, dựa trên nền tảng kiểm định chất lượng thay vì phụ thuộc quá nhiều vào các thủ tục hành chính.

Với nhiều năm làm việc trong môi trường giáo dục đại học tại Úc, ông cho biết, quốc gia này xây dựng cả một hệ sinh thái đảm bảo chất lượng với tiêu chuẩn rõ ràng, minh bạch và được chuẩn hóa ở cấp quốc gia. Trọng tâm của hệ thống này là Australian Qualifications Framework (AQF) - khung chuẩn quốc gia, quy định toàn bộ các bậc trình độ trong giáo dục, từ chứng chỉ nghề, cử nhân, thạc sĩ đến tiến sĩ, đóng vai trò chuẩn tham chiếu thống nhất để các trường, tổ chức nghề nghiệp và nhà tuyển dụng đối chiếu văn bằng quốc tế.

gs-toan-2112-1643-8203.jpg
Giáo sư Trần Trọng Toàn hiện làm việc tại Đại học Công nghệ Sydney, Úc. Ảnh: NVCC.

"Khi đánh giá một văn bằng nước ngoài, các trường đại học hoặc nhà tuyển dụng tại Úc không hỏi người học học ở đâu theo nghĩa địa lý hay hình thức học tập, mà tập trung vào các câu hỏi cốt lõi: Cơ sở đào tạo có được kiểm định trong hệ thống giáo dục của quốc gia đó không? Chương trình có tương đương về chuẩn đầu ra với AQF không? Văn bằng có được cấp hợp pháp và phù hợp tiêu chuẩn quốc gia không? Quan trọng nhất, các trường đại học có quyền tự chủ trong việc đánh giá và công nhận văn bằng, chứ không phải xin phép một cơ quan trung ương", Giáo sư Toàn cho hay.

Nguyên tắc vận hành ở đây rất rõ: niềm tin được đặt vào hệ thống kiểm định chất lượng, không phải vào việc cấp phép hành chính. Điều này vừa bảo đảm chất lượng học thuật, vừa giảm đáng kể rào cản cho việc di chuyển học thuật quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh giáo dục trực tuyến và xuyên biên giới đang phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu.

Giáo dục trực tuyến đang thay đổi cách nhìn về công nhận văn bằng

Theo nhiều chuyên gia, khi người học có thể tiếp cận các chương trình đào tạo từ nhiều quốc gia với hình thức học tập linh hoạt, tiêu chí công nhận văn bằng cũng dần chuyển từ việc chú trọng người học theo học hình thức nào sang đánh giá chất lượng kiểm định và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.

Theo các thống kê, lĩnh vực đào tạo trực tuyến đã tăng trưởng khoảng 900% trên toàn cầu kể từ năm 2000 và 49% sinh viên toàn cầu đã hoàn thành ít nhất một khóa học trực tuyến.

Xu hướng này không chỉ diễn ra ở bậc đại học. Ở bậc phổ thông, nhiều trường trực tuyến hiện được kiểm định bởi các tổ chức quốc tế như Cognia - đơn vị đang đánh giá hàng chục nghìn cơ sở giáo dục trên toàn cầu. Học sinh theo học tại các trường này vẫn được cấp bằng tốt nghiệp có giá trị tuyển sinh tại nhiều trường đại học quốc tế nếu chương trình đáp ứng yêu cầu kiểm định và chuẩn đầu ra.

Ở bậc tiến sĩ, nhiều trường đại học tại Mỹ, Anh và Úc hiện đang cung cấp các chương trình đào tạo hoàn toàn trực tuyến hoặc kết hợp trực tuyến - trực tiếp. Khảo sát năm 2024 của Hiệp hội Quốc gia về Cao đẳng và Nhà tuyển dụng Mỹ (NACE) cho thấy, 87,4% nhà tuyển dụng đã tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp bằng online, và 100% trong số đó trả mức lương khởi điểm tương đương với bằng truyền thống. Xu hướng này cho thấy giá trị văn bằng ngày càng được đánh giá dựa trên chất lượng đào tạo và hệ thống kiểm định hơn là hình thức học tập hay địa điểm đào tạo.

Chuyên gia cho rằng, đây là xu hướng mà các hệ thống giáo dục đang hội nhập, trong đó có Việt Nam, có thể tham khảo khi xây dựng chính sách công nhận văn bằng.

Trao quyền tự chủ công nhận văn bằng mang lại nhiều lợi ích

Nhìn từ góc độ quản lý giáo dục, Giáo sư Trần Trọng Toàn chỉ ra rằng mô hình tập trung thẩm quyền công nhận văn bằng, trong đó cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp phê duyệt từng hồ sơ, có thể dẫn đến gia tăng thủ tục hành chính, kéo dài thời gian xử lý và tạo ra rào cản không cần thiết cho người học, nhà tuyển dụng lẫn các cơ hội hợp tác học thuật quốc tế.

Trong môi trường học thuật quốc tế, tốc độ xử lý là yếu tố rất quan trọng. Chẳng hạn, một trường đại học muốn tuyển dụng nhanh một giảng viên quốc tế, bổ nhiệm đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh hay triển khai một chương trình hợp tác mới thì các thủ tục công nhận văn bằng kéo dài có thể làm mất đi cơ hội hợp tác.

578035260-1256263786535817-1631683820317117956-n.jpg
Ảnh minh họa: UTS.

Xu hướng chung tại các nền giáo dục phát triển hiện nay là chuyển từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm". Nhà nước không trực tiếp phê duyệt từng hồ sơ mà tập trung xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, kiểm định và giám sát chất lượng xuyên suốt.

"Điều này không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý. Nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc thiết lập tiêu chuẩn, công nhận các cơ quan kiểm định và xử lý vi phạm. Tuy nhiên, các quyết định mang tính học thuật chuyên môn như công nhận văn bằng thường được giao cho những đơn vị trực tiếp sử dụng và có đủ năng lực đánh giá, đó là các trường đại học", Giáo sư Toàn nhấn mạnh.

Cách tiếp cận này mang lại nhiều lợi ích thực chất: tăng tính minh bạch và nhất quán khi việc công nhận dựa trên chuẩn mực rõ ràng thay vì quyết định hành chính; thúc đẩy hội nhập quốc tế khi sinh viên, giảng viên và nhà khoa học di chuyển học thuật thuận lợi hơn; đồng thời tiết kiệm đáng kể chi phí xã hội về thời gian và nguồn lực.

Quan trọng hơn, trao quyền tự chủ không có nghĩa là giảm trách nhiệm mà ngược lại. Tại Úc, quyền tự chủ luôn đi kèm với cơ chế kiểm định độc lập và trách nhiệm giải trình nghiêm ngặt. Uy tín học thuật của nhà trường gắn trực tiếp với chất lượng các quyết định họ đưa ra.

"Tự chủ không đồng nghĩa với thả nổi mà là chuyển trách nhiệm từ cơ quan hành chính sang các chủ thể có chuyên môn trực tiếp, đồng thời đặt họ dưới sự giám sát của một hệ thống đảm bảo chất lượng mạnh mẽ. Một hệ thống giáo dục hiện đại không kiểm soát chất lượng bằng việc phê duyệt từng hồ sơ, mà bằng một hệ sinh thái kiểm định mạnh mẽ và trao quyền cho các cơ sở giáo dục chịu trách nhiệm", Giáo sư Trần Trọng Toàn đúc kết.

Trong bối cảnh Việt Nam đang hoàn thiện dự thảo Thông tư công nhận văn bằng nước ngoài, kinh nghiệm từ các hệ thống giáo dục tiên tiến cho thấy trọng tâm quản lý đang dần chuyển từ phê duyệt hành chính sang xây dựng hệ sinh thái kiểm định mạnh, tăng trách nhiệm giải trình và trao thêm quyền chủ động cho các cơ sở giáo dục. Đây được xem là một trong những hướng tiếp cận đáng tham khảo để vừa bảo đảm chất lượng, vừa tạo điều kiện cho hội nhập giáo dục quốc tế.

Thi Thi