Dự thảo Nghị định quy định chính sách cho học sinh trường phổ thông nội trú và trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới đất liền được kỳ vọng sẽ giúp học sinh tại các trường này thêm yên tâm học tập.
Dự thảo Nghị định được xây dựng nhằm thể chế hóa Kết luận số 81-TB/TW ngày 18/7/2025 của Bộ Chính trị về chủ trương đầu tư xây dựng trường học cho các xã biên giới và Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, hướng tới mục tiêu bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục, đồng thời góp phần đào tạo nguồn nhân lực, ổn định dân cư và phát triển bền vững khu vực biên giới.
Đề xuất kéo dài thời gian hỗ trợ trong một số trường hợp đặc biệt tùy tình hình thực tế
Đối với học sinh bán trú buổi trưa, dự thảo quy định mức hỗ trợ tiền ăn là 450.000 đồng mỗi tháng, đồng thời hỗ trợ 8 kg gạo mỗi tháng, với thời gian hưởng không quá 9 tháng trong một năm học.
Đối với học sinh nội trú mức hỗ trợ tiền ăn được xác định là 1.170.000 đồng mỗi tháng nhằm bảo đảm đủ ba bữa ăn mỗi ngày, kèm theo hỗ trợ 15 kg gạo mỗi tháng, với thời gian hưởng không quá 9 tháng trong một năm học.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Nguyễn Tiến Thành - Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Pa Tần (xã Pa Tần, tỉnh Lai Châu) cho biết, về cơ bản mức hỗ trợ dành cho học sinh bán trú này đáp ứng được yêu cầu tổ chức một bữa ăn trưa tối thiểu, bảo đảm đủ năng lượng cho học sinh học tập trong buổi chiều.
Tuy nhiên, theo thầy Thành, trong điều kiện giá cả thực phẩm tại nhiều địa phương vùng sâu, vùng xa có xu hướng cao hơn so với khu vực trung tâm, đặc biệt là các nhóm thực phẩm giàu đạm và rau xanh, thì mức hỗ trợ này chủ yếu đáp ứng ở mức cơ bản, còn gặp khó khăn trong việc nâng cao chất lượng bữa ăn theo hướng đa dạng và cân đối dinh dưỡng.
Đối với học sinh nội trú, mức hỗ trợ 1.170.000 đồng/tháng cùng với 15 kg gạo để bảo đảm ba bữa ăn mỗi ngày là một bước điều chỉnh tích cực so với các chính sách trước đây. Mức này về cơ bản giúp nhà trường chủ động hơn trong việc xây dựng khẩu phần ăn đủ no, đủ năng lượng cho học sinh.
“Dù vậy, xét trên yêu cầu đảm bảo dinh dưỡng toàn diện cho học sinh ở độ tuổi đang phát triển, đặc biệt là nhu cầu về chất đạm, vi chất dinh dưỡng và an toàn thực phẩm, thì trong thực tế triển khai, nhiều trường vẫn cần huy động thêm sự hỗ trợ từ ngân sách địa phương, nguồn xã hội hóa hoặc sự đóng góp hợp lý để nâng cao chất lượng bữa ăn.
Nhìn chung, các mức hỗ trợ được đề xuất trong dự thảo là phù hợp với khả năng ngân sách và có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm điều kiện học tập tối thiểu cho học sinh bán trú và nội trú.
Nhưng để thực sự bảo đảm chất lượng bữa ăn một cách bền vững, cần có sự linh hoạt trong tổ chức thực hiện, gắn với đặc thù giá cả, điều kiện cung ứng thực phẩm và nhu cầu dinh dưỡng thực tế tại từng địa phương”, Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Pa Tần bày tỏ.
Ngoài ra, thầy Thành cho rằng quy định thời gian hỗ trợ không quá 9 tháng trong một năm học về cơ bản phù hợp với khung thời gian học tập chính khóa theo quy định hiện hành. Quy định này góp phần bảo đảm tính thống nhất trong quản lý ngân sách và phù hợp với kế hoạch năm học của ngành giáo dục.
Mặc dù vậy, đối với học sinh nội trú và bán trú ở vùng biên giới, miền núi, nơi điều kiện đi lại khó khăn, khoảng cách từ nhà đến trường xa, thời tiết diễn biến khắc nghiệt và đời sống kinh tế gia đình còn nhiều hạn chế, thì thực tế phát sinh những giai đoạn ngoài 9 tháng chính khóa mà học sinh vẫn phải ở lại trường để ôn tập, học tăng cường, phụ đạo hoặc chuẩn bị cho các kỳ thi quan trọng.
Trong các thời điểm này, nếu không còn chính sách hỗ trợ, nhà trường và gia đình gặp nhiều khó khăn trong việc bảo đảm bữa ăn và sinh hoạt tối thiểu cho học sinh.
Bên cạnh đó, vào các thời điểm mưa lũ, rét đậm, rét hại hoặc thiên tai, việc học sinh di chuyển về gia đình không bảo đảm an toàn, nhiều em buộc phải lưu trú tại trường. Việc không có cơ chế hỗ trợ ngoài thời gian 9 tháng trong những trường hợp đặc thù này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khỏe và tâm lý của học sinh, đồng thời gây áp lực lớn cho nhà trường trong công tác quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng.
“Từ thực tiễn trên, tôi đề xuất dự thảo nên nghiên cứu bổ sung cơ chế linh hoạt, cho phép kéo dài thời gian hỗ trợ trong một số trường hợp đặc biệt như giai đoạn ôn thi cuối cấp, tổ chức học tăng cường theo kế hoạch của ngành hoặc khi xảy ra điều kiện thời tiết khắc nghiệt, thiên tai khiến học sinh không thể về nhà.
Việc điều chỉnh có thể thực hiện theo hướng giao quyền chủ động cho địa phương trên cơ sở cân đối ngân sách, có xác nhận của cơ quan quản lý giáo dục, nhằm hỗ trợ thêm cho học sinh và phù hợp với điều kiện thực tế tại từng vùng”, thầy Nguyễn Tiến Thành nêu quan điểm.
Cùng chia sẻ về vấn đề này, cô Nguyễn Thị Kiều Hoa - Hiệu trưởng Trường Phổ thông trung học Dân tộc nội trú tỉnh Nghệ An đồng tình với mức hỗ trợ tiền ăn cho học sinh phổ thông nội trú và bán trú buổi trưa trong dự thảo nghị định lần này.
Về tiền ăn và hỗ trợ gạo đối với học sinh bán trú buổi trưa đã bảo đảm tương đồng với mức hỗ trợ quy định tại Nghị định số 339/2025/NĐ-CP ngày 25/12/2025 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ bữa ăn trưa cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở học ở các xã biên giới đất liền.
Về tiền ăn và hỗ trợ gạo đối với học sinh nội trú, dự thảo tiếp cận theo hướng bảo đảm đủ 3 bữa ăn mỗi ngày (sáng, trưa, tối) cho các em, góp phần giúp các em nhỏ nơi vùng cao biên giới còn gặp nhiều khó khăn nâng cao thể trạng, duy trì và tăng cường sức khỏe, sức đề kháng, có tinh thần sức khỏe tốt để yên tâm bám lớp, bám trường, cố gắng học tập, rèn luyện.
Cần xác định rõ khái niệm “nhà ở xa trường” gắn với khoảng cách địa lý hoặc thời gian di chuyển
Cũng theo dự thảo, mỗi năm học, học sinh trường phổ thông nội trú được hỗ trợ 2.050.000 đồng để mua đồng phục và học phẩm phục vụ học tập. Riêng học sinh nội trú, ở mỗi cấp học, được cấp một lần hiện vật gồm chăn, màn và đồ dùng cá nhân với mức trị giá 2.050.000 đồng cho mỗi học sinh.
Đánh giá về chính sách này, cô Phùng Thị Biên - Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú Trung học cơ sở Hạ Lang (xã Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng) nhận định đây là mức hỗ trợ phù hợp và đã cao hơn so với mức quy định hiện hành đối với học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú (mức hiện hành là 1.080.000 đồng/học sinh theo quy định tại Điểm c, Khoản 3, Điều 6, Nghị định 66/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025 quy định chính sách cho trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo và cơ sở giáo dục có trẻ em nhà trẻ, học sinh hưởng chính sách).
Theo cô Biên, với mức hỗ trợ trong dự thảo, nhu cầu tối thiểu về sinh hoạt, học tập và điều kiện ăn ở của học sinh cơ bản có thể được đáp ứng.
“Về cơ chế thực hiện, tôi cho rằng vẫn nên áp dụng hình thức cấp tiền mặt, để nhà trường căn cứ theo các hướng dẫn cụ thể của địa phương, xây dựng danh mục mua sắm trên cơ sở cân đối ngân sách định mức.
Cách làm này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở giáo dục chủ động lựa chọn hiện vật, đồ dùng cá nhân phù hợp với đặc thù vùng miền và điều kiện thực tế.
Đồng thời, nếu tổ chức mua sắm, đấu thầu theo đúng quy định, việc triển khai sẽ bảo đảm tính công khai, minh bạch và thực hành tiết kiệm, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách”, cô Biên cho hay.
Dự thảo Nghị định cũng hướng tới đơn giản hóa thủ tục hành chính, không quy định các thủ tục phức tạp đối với phụ huynh. Việc xét duyệt học sinh được thực hiện ngay trong kỳ tuyển sinh theo kế hoạch của nhà trường, mỗi học sinh chỉ xét duyệt một lần cho toàn bộ cấp học.
Trong trường hợp số lượng đăng ký vượt quá chỉ tiêu, việc xét duyệt học sinh nội trú được thực hiện theo thứ tự ưu tiên gồm trẻ em không có nguồn nuôi dưỡng, học sinh thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo, học sinh thường trú tại vùng đặc biệt khó khăn hoặc có nhà ở xa trường và con gia đình chính sách.
Theo Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú Trung học cơ sở Hạ Lang, dự thảo Nghị định quy định mỗi học sinh nội trú chỉ phải xét duyệt một lần trong kỳ tuyển sinh và được hưởng chính sách trong suốt toàn cấp học là chủ trương phù hợp với mục tiêu đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho phụ huynh và nhà trường.
Tuy nhiên, trên thực tế, quy định này có thể phát sinh những tình huống chưa thật sự phù hợp, đặc biệt với các trường hợp học sinh thay đổi nơi cư trú trong quá trình học tập, chẳng hạn chuyển nhà trong cùng địa bàn xã nhưng nơi ở mới không còn thuộc diện được hưởng chính sách.
Điều này có thể dẫn đến sự so sánh, tạo cảm giác thiếu công bằng trong cộng đồng, vì vậy cần có cơ chế linh hoạt hơn, cho phép rà soát, xét bổ sung ngay trong kỳ tuyển sinh hằng năm để bảo đảm quyền lợi chính đáng và tính công bằng.
Đối với thứ tự ưu tiên khi số lượng đăng ký vượt quá chỉ tiêu, các tiêu chí được dự thảo đưa ra là nhân văn, hợp lý và đúng đối tượng. Dù vậy, để hạn chế khiếu nại và tránh bỏ sót, cần làm rõ thêm một số tiêu chí cụ thể, như quy định rõ khái niệm “nhà ở xa trường” theo khoảng cách địa lý hoặc điều kiện đi lại thực tế; có sự xác nhận thống nhất của chính quyền địa phương đối với các đối tượng ưu tiên; đồng thời quy định chặt chẽ trách nhiệm công khai, minh bạch ngay từ đầu trong toàn bộ quá trình tuyển sinh. Những điều chỉnh này sẽ góp phần nâng cao tính khả thi và hiệu quả của chính sách khi triển khai.
Đồng quan điểm, thầy Nguyễn Tiến Thành khẳng định cần có quy định bổ sung về việc rà soát, điều chỉnh đối tượng trong những trường hợp đặc biệt như học sinh thay đổi hoàn cảnh gia đình, phát sinh khó khăn đột xuất hoặc có sự thay đổi về nơi cư trú trong quá trình học tập.
“Đối với quy định về thứ tự ưu tiên khi số lượng đăng ký vượt quá chỉ tiêu, nhà trường nhận thấy các nhóm đối tượng được ưu tiên trong dự thảo là phù hợp với mục tiêu bảo đảm công bằng xã hội và hỗ trợ đúng đối tượng có hoàn cảnh khó khăn nhất.
Việc ưu tiên trẻ em không có nguồn nuôi dưỡng, học sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo, học sinh thường trú tại vùng đặc biệt khó khăn, nhà ở xa trường và con gia đình chính sách là khả thi và phù hợp với thực tiễn tại địa phương.
Dù vậy, nhà trường kiến nghị cần làm rõ và cụ thể hóa hơn một số tiêu chí như: xác định rõ khái niệm “nhà ở xa trường” gắn với khoảng cách địa lý hoặc thời gian di chuyển; quy định cụ thể về giấy tờ, căn cứ xác nhận đối với từng nhóm đối tượng ưu tiên; đồng thời có cơ chế công khai danh sách xét duyệt, thứ tự ưu tiên và kết quả tuyển sinh để phụ huynh, học sinh và cộng đồng giám sát.
Bên cạnh đó, cần quy định rõ trách nhiệm của hội đồng tuyển sinh và cơ quan quản lý giáo dục địa phương trong việc thẩm định, giải quyết kiến nghị, phản ánh phát sinh trong quá trình xét duyệt”, Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Pa Tần đề xuất.
