Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Nghị quyết số 249/2025/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035 (sau đây gọi là Chương trình).
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, lãnh đạo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đều nhìn nhận, để thực hiện mục tiêu trên, các nhà trường hiện đang đứng trước những thuận lợi và khó khăn riêng.
Giáo dục nghề nghiệp đứng trước giai đoạn phát triển mới với rất nhiều cơ hội
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Sang - Chủ tịch Hội đồng trường, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Ngoại ngữ - Công nghệ và Truyền thông nhìn nhận: “Trước hết, có thể khẳng định, giáo dục nghề nghiệp Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới với rất nhiều cơ hội thuận lợi, mang tính chiến lược. Việc Quốc hội thông qua Nghị quyết số 249/2025/QH15 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035 cho thấy sự quan tâm đặc biệt, chưa từng có của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng.
Đối với giáo dục nghề nghiệp, Chương trình đã xác định rất rõ vai trò trung tâm của đào tạo kỹ năng nghề trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số, xã hội số, hội nhập quốc tế. Việc đầu tư trọng điểm cho các trường cao đẳng, các ngành nghề “mũi nhọn”, hướng tới chuẩn ASEAN và quốc tế là một thông điệp rất mạnh mẽ, tạo động lực cho toàn hệ thống bởi chúng ta trong thời gian vừa qua chưa định vị và đầu tư tương xứng cho giáo dục nghề nghiệp trong đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực cốt lõi cho phát triển kinh tế - xã hội.
Cho nên, bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp mạnh mẽ thì việc đầu tư cho các trường cao đẳng trọng điểm, các ngành nghề “mũi nhọn” mang tính dẫn dắt là vô cùng cần thiết”.
Đồng quan điểm đó, Tiến sĩ Trương Đức Cường - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai cũng chia sẻ: “Trong vai trò của một nhà giáo, tôi nhìn thấy tương lai cho sự nghiệp trồng người. Trước đây, giáo dục đã được Đảng và Nhà nước coi trọng “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, trong giai đoạn hiện nay, chủ trương đó được thể hiện bằng Nghị quyết rất hợp với lòng dân.
Do đó, cơ hội của sự phát triển sẽ được cụ thể bằng tầm nhìn chiến lược giai đoạn trước mắt từ nay đến 2030, sẽ có 30 trường cao đẳng đào tạo 20 ngành/nghề trọng điểm, mũi nhọn phát triển kinh tế - xã hội vùng cho mỗi vùng, mỗi địa phương, có năng lực cạnh tranh trong khu vực ASEAN là điểm nhấn đầu tiên.
Đây chính là cơ hội cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cũng là bước thí điểm để sau 2030, sẽ mở rộng thêm nhiều ngành/nghề khác nữa cho nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp có khả năng vượt trội không chỉ trong khu vực ASEAN mà còn cạnh tranh vươn tầm với thế giới”.
Đặc biệt, từ ngày 01/01/2026, việc đồng thời 4 luật và 2 nghị quyết về giáo dục và đào tạo được thực thi đã mở ra một hành lang pháp lý mới, đồng bộ và thông thoáng hơn.
Theo đó, Tiến sĩ Trương Đức Cường nhìn nhận: “Đối với các cơ sở giáo dục đào tạo (nói chung) và giáo dục nghề nghiệp (nói riêng), cơ hội chưa từng có đã đến trong thời điểm đất nước vươn mình, cơ chế đã được “cởi trói”:
Đầu tiên, giáo dục và đào tạo đã được đánh giá đúng vị thế, vì không ai trưởng thành và phát triển toàn diện mà không qua giáo dục, do đó, 4 luật ra đời đảm bảo tính liên thông cho các cấp học, trong đó việc đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai được xác định rõ nét và bắt đầu từ cơ chế, chính sách để mọi người dân đều được hưởng lợi từ giáo dục, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đảm bảo tính khả thi bền vững.
Thứ hai, chế độ cho người dạy được quy định trong luật, vị thế của người thầy được coi trọng, ưu đãi cho người dạy, người học nhất là đặc trưng vùng miền: vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn như biên giới, hải đảo được đầu tư đúng mức.
Thứ ba, cơ sở giáo dục được giao tự chủ không phụ thuộc vào tự chủ tài chính là mấu chốt để cơ sở giáo dục tự vươn lên, tự thân bằng khả năng, trí tuệ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo”.
Trong bối cảnh ấy, cơ hội của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai sẽ có nhiều cách tiếp cận. Vị Hiệu trưởng cho biết: “Tự chủ là hướng đi tự thân của nhà trường, vì công nghiệp văn hóa đã tạo đà cho các ngành/nghề mỹ thuật công nghiệp phát triển. Hiện nay, nhà trường đang đào tạo 6 ngành/nghề: Thiết kế nội thất, Thiết kế đồ họa, Truyền thông đa phương tiện, Thiết kế thời trang, ngành/nghề truyền thống là Gốm và Điêu khắc. 6 ngành/nghề này phục vụ cho công nghiệp văn hóa, đang “tự thân vận động” một cách mạnh mẽ.
Những năm qua, các thế hệ học sinh, sinh viên ra trường họ rất vững vàng về tay nghề. Đầu ra của sinh viên tốt nghiệp dường như là được các công ty, xí nghiệp sử dụng một cách triệt để và nhà trường cũng đã áp dụng cơ chế đặt hàng... Cơ hội tự chủ chính là hướng mới để nhà trường tìm ra những đối tác tin cậy trong và ngoài nước, giúp cho sự nghiệp đào tạo, nghiên cứu khoa học phát triển và vươn ra thế giới, cụ thể là liên doanh, liên kết, đào tạo theo địa chỉ…”.
Tiến sĩ Trương Đức Cường - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai. Ảnh: Mộc Trà.
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Sang cũng chỉ ra, điều này tạo ra nhiều thời cơ quan trọng cho giáo dục nghề nghiệp như: “Mở rộng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp gắn với trách nhiệm giải trình. Thuận lợi hơn trong đổi mới chương trình, phương thức đào tạo, liên kết đào tạo, gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động. Thúc đẩy mạnh mẽ việc liên kết giữa nhà trường - doanh nghiệp - thị trường lao động quốc tế, tạo điều kiện để các cơ sở đào tạo tiếp cận các chuẩn nghề nghiệp khu vực và thế giới. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp dễ huy động được các nguồn lực về nhân sự, về tài chính… để phát triển.
Đối với Trường Cao đẳng Ngoại ngữ - Công nghệ và Truyền thông, chúng tôi nhận thấy, đây là cơ hội rất tốt để phát triển. Nhà trường có lợi thế trong đào tạo các lĩnh vực gắn chặt với xu thế phát triển hiện nay như ngoại ngữ, công nghệ, truyền thông. Chương trình mục tiêu quốc gia sẽ tạo điều kiện để nhà trường: Đầu tư nâng cao chất lượng các ngành, nghề mũi nhọn. Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực có năng lực ngoại ngữ, kỹ năng số và kỹ năng hội nhập quốc tế. Mở rộng hợp tác với doanh nghiệp, tổ chức quốc tế và các đối tác trong khu vực ASEAN để đổi mới bắt kịp với xu hướng hội nhập, qua đó, từng bước khẳng định vị thế của nhà trường trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao”.
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Sang cũng kỳ vọng: “Trong thời gian tới, “diện mạo” của giáo dục nghề nghiệp sẽ có sự thay đổi căn bản và tích cực, không chỉ về cơ sở vật chất, chương trình đào tạo mà quan trọng hơn là chất lượng đầu ra, vị thế xã hội và sự hấp dẫn đối với người học. Giáo dục nghề nghiệp sẽ thực sự trở thành một con đường học tập và lập nghiệp có giá trị, bền vững. Và đến một lúc, lựa chọn học nghề sẽ là một lựa chọn tối ưu với mỗi gia đình và người học”.
Những “chìa khóa” then chốt để hiện thực hóa mục tiêu đã đặt ra
Theo Tiến sĩ Nguyễn Xuân Sang, với những mục tiêu đã được xác định rất rõ ràng trong Chương trình mục tiêu quốc gia, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời gian tới sẽ đứng trước nhiều thuận lợi, song cũng không ít thách thức.
Về thuận lợi, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có định hướng chiến lược dài hạn và nhất quán từ Trung ương. Việc đầu tư sẽ được tập trung, tránh bị dàn trải. Đổi mới, sáng tạo và tự chủ ngày càng được khuyến khích thông qua các cơ chế chính sách của nhà nước. Nhu cầu về nguồn nhân lực có kỹ năng nghề, ngoại ngữ và công nghệ ngày càng tăng trong bối cảnh dân số nhiều quốc gia đang ngày càng già hóa…
Bên cạnh những thuận lợi, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cũng có nhiều khó khăn, thách thức rất rõ nét như: Có sự chênh lệch về năng lực quản trị, đội ngũ giảng viên và điều kiện đảm bảo chất lượng giữa các cơ sở. Áp lực để chuẩn hóa, quốc tế hóa chương trình đào tạo, đặc biệt với các ngành công nghệ và hội nhập. Mức độ đáp ứng so với yêu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp đối với kỹ năng thực hành, kỹ năng mềm và tác phong nghề nghiệp. Cạnh tranh ngày càng lớn trong thu hút người học bởi hệ thống giáo dục nghề nghiệp không chỉ cạnh tranh với các trường trong nước mà sẽ phải cạnh tranh với giáo dục nước ngoài ngày càng mở rộng.
Để hiện thực hóa các mục tiêu của Chương trình, theo Tiến sĩ Nguyễn Xuân Sang, cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm: Một là, đổi mới quản trị nhà trường, chuyển từ quản lý sang quản trị hiện đại. Hai là, phát triển đội ngũ giảng viên, trong đó chú trọng đặc biệt tới năng lực thực tiễn, ngoại ngữ và công nghệ số. Ba là, định vị rõ vai trò của doanh nghiệp để gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp, coi doanh nghiệp là đối tác chiến lược, một yếu tố không thể thiếu trong đào tạo. Bốn là, tập trung đầu tư cho ngành, nghề có lợi thế, nhu cầu cao của thị trường, chú trọng tới việc phân tích, đánh giá kỹ để đầu tư đào tạo nhân lực theo đặc thù kinh tế xã hội của vùng, ngành… Năm là, phải đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý và đào tạo.
“Theo tôi, “chìa khóa” then chốt chính là tư duy không ngừng đổi mới và sự chủ động của mỗi cơ sở giáo dục nghề nghiệp, của mỗi lãnh đạo cơ sở giáo dục nghề nghiệp, lấy chất lượng đào tạo và việc làm của người học làm thước đo cao nhất” - vị Hiệu trưởng nhấn mạnh.
Liên quan đến nội dung này, Tiến sĩ Vũ Quang Khuê - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh cũng cho rằng: “Điểm then chốt để thực hiện các mục tiêu của Chương trình chính là đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, đặc biệt, phải xác định hiệu quả của đầu tư công. Khi đã đầu tư bằng ngân sách nhà nước, phải tính toán được hiệu quả, phân tích được rủi ro, bởi nếu lựa chọn không đúng, không phù hợp hoặc chưa sát với thực tiễn, thì sẽ có thể gây ra lãng phí.
Chính vì vậy, cần xác định rõ các tiêu chí để lựa chọn các cơ sở giáo dục nghề nghiệp để đầu tư, chẳng hạn, theo lĩnh vực đào tạo, ngành nghề trọng điểm, khu vực trọng tâm phát triển kinh tế xã hội có nhu cầu thị trường lao động lớn…
Và theo tôi, nên hướng đến tập trung đầu tư theo nhóm ngành, theo lĩnh vực nghề nghiệp phù hợp với đặc trưng vùng miền. Chẳng hạn, ở khu vực miền núi đầu tư trọng điểm về nông nghiệp công nghệ cao, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có mục tiêu khác với các trường ở các khu công nghiệp lớn, cũng khác những địa phương có thế mạnh về phát triển du lịch, dịch vụ…
Ví dụ, tại Bắc Ninh, sẽ tập trung phát triển đào tạo các ngành về công nghiệp số, công nghiệp bán dẫn, trường chúng tôi đã đào tạo chương trình Năng lực số cho sinh viên theo khung tiêu chuẩn châu Âu từ năm 2023 xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi của thị trường lao động liên quan đến công nghệ 4.0 cũng như sức thu hút đầu tư khác nhau.
Như vậy, chúng ta cần chọn đối tượng trường, chọn ngành nghề, lĩnh vực, chọn trình độ để đầu tư trọng điểm. Việc lựa chọn này được thực hiện một cách khách quan, các chỉ số đưa ra phải được công khai, tường minh”.
Tiến sĩ Trương Đức Cường cũng bày tỏ: “Trong xu thế chung của sự hội nhập, giáo dục nghề nghiệp sẽ thay đổi về chất trong diện mạo mới là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có kiến thức, kỹ năng nghề vững vàng, làm chủ khoa học công nghệ, có ngoại ngữ đủ tầm để trở thành “công dân toàn cầu”, làm chủ bản thân, góp phần phát triển đất nước nhanh, mạnh. Đó chính là xu thế của giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên vươn mình”.
Theo Tiến sĩ Trương Đức Cường, để đạt được những mục tiêu đã được đặt ra theo từng giai đoạn của Chương trình mục tiêu quốc gia, mỗi cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần xây dựng một lộ trình riêng phù hợp với đặc thù, tính chất ngành/nghề, đội ngũ, cơ sở vật chất trang thiết bị xác định lại cơ cấu ngành/nghề, mở ra những ngành/nghề mới phù hợp với xu thế phát triển của kỷ nguyên mới trên cơ sở tinh gọn bộ máy; đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực; sử dụng có hiệu quả thành tựu khoa học công nghệ; nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ theo xu hướng phát triển, đáp ứng được nhu cầu thị trường lao động chất lượng cao.
Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần vào cuộc mạnh mẽ
Tiến sĩ Trương Đức Cường cho rằng: “Thực hiện Nghị quyết của Đảng, mỗi cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải xây dựng ngay chương trình hành động, xác định rõ mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể gắn với sứ mạng, tầm nhìn của đơn vị, nếu muốn đạt được mục tiêu chung, cần xác định 6 rõ: rõ mục tiêu, rõ tầm nhìn, rõ thời gian, rõ địa điểm, rõ hiệu quả, rõ thẩm quyền.
Triển khai ngay khi thời cơ đã đến, làm đến đâu xong đến đó, làm tốt công tác nêu gương và thể hiện rõ vai trò của người đứng đầu trong mỗi cơ sở giáo dục nghề nghiệp (truyền cảm hứng giữa nói là làm; chỉ bàn làm không bàn lùi, quyết tâm chính trị một cách cao nhất…).
Đặc biệt, đối với các cơ sở đào tạo nghề đặc thù, đã tham mưu cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình ngay cấp có thẩm quyền ban hành danh mục nghề đặc thù nghệ thuật và thể thao cụ thể là: Đối với trung học nghề, đề xuất 21 ngành/nghề lĩnh vực thể thao và 66 ngành, nghề lĩnh vực nghệ thuật; đối với trình độ trung cấp, đề xuất 65 ngành/nghề lĩnh vực nghệ thuật; đối với trình độ cao đẳng, đề xuất 50 ngành/nghề lĩnh vực nghệ thuật.
Mặt khác, các cơ sở giáo dục đã xây dựng quy chế tuyển sinh ngành/nghề đặc thù ngay từ năm học 2026-2027; triển khai đào tạo trung học nghề; xây dựng kế hoạch rà soát, điều chỉnh, chương trình đào tạo theo hướng tăng cường thực hành, coi trọng kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp bổ sung thêm ngoại ngữ (sử dụng ngôn ngữ thứ 2); số hóa trong đào tạo nghề đặc thù.
Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai đã triển khai học tập nghị quyết ngay từ những ngày đầu, các khoa chuyên môn đã tham mưu kế hoạch triển khai đào tạo cao đẳng theo hướng tiếp cận năng lực và trung học nghề; rà soát, điều chỉnh bổ sung chương trình đào tạo nhằm nâng cao kỹ năng thực hành nghề nghiệp, kỹ năng hội nhập gắn với số hóa chương trình, giáo trình, học liệu và ngoại ngữ chuyên ngành.
Đồng thời, bổ sung đội ngũ theo hướng đồng cơ hữu và hợp đồng chuyên môn. Đây chính là “nút thắt” của nhà trường đã được “mở ra”, để thu hút đội ngũ chuyên môn chất lượng cao mà nhiều năm trước đây không có cơ chế chính sách để sử dụng”.
Liên quan đến cơ chế cho phép thực hiện giảng viên đồng cơ hữu, Tiến sĩ Vũ Quang Khuê cũng đánh giá: “Đây là một trong những điểm mới, tạo thuận lợi cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp mở rộng quy mô; mặc dù đối tượng xác định mới chỉ đề cập đến các nhà giáo, viên chức trong các tổ chức chính trị - xã hội. Nội dung này có thể mở rộng đến vai trò của các chuyên gia đến từ các doanh nghiệp tham gia giảng dạy bán chuyên trách.
Tuy nhiên, Tiến sĩ Vũ Quang Khuê cũng nêu quan điểm: “Tôi cho rằng, khái niệm “giảng viên đồng cơ hữu” cần hướng đến các doanh nghiệp, bởi vì hiện nay, đối với nhà trường, cơ bản, các doanh nghiệp đã tham gia là một phần chủ thể của quá trình đào tạo, chứ không phải chỉ là sự phối hợp hay hợp tác nữa. Và doanh nghiệp chính là đơn vị sử dụng lao động, hiểu rõ những gì họ đang cần và sẽ đào tạo được nguồn nhân lực đáp ứng những yêu cầu đó”.
Giờ học tại Trường Cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh. Ảnh: website trường.
Ngoài ra, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai cũng đề cập: “Hướng đến tự chủ toàn diện, tôi kiến nghị Chính phủ sớm ban hành nghị định, để các bộ chức năng có căn cứ ban hành các thông tư hướng dẫn, để 4 luật được áp dụng ngay trong quý I năm 2026.
Việc được giao tự chủ về biên chế, tổ chức sẽ giúp cho việc vận hành được nhanh chóng kịp thời, hiệu quả. Về tài chính, nên có lộ trình cho các đơn vị sự nghiệp công lập đào tạo ngành nghề đặc thù. Đối với các đơn vị có ngành/nghề trọng điểm quốc gia cần được Chính phủ đầu tư hoàn thiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện chuẩn quốc gia, quốc tế trong đào tạo ngành/nghề trọng điểm.
Đối với một số ngành/nghề truyền thống, ngành/nghề xã hội cần, khó tuyển sinh, cần được Chính phủ “đặt hàng” theo từng giai đoạn, bỏ hẳn cơ chế “xin - cho”…”.
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Sang cũng cho rằng, trong giai đoạn tới, về hành lang pháp lý cơ bản đã có, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần có sự vào cuộc mạnh mẽ, đồng bộ và chủ động hơn nữa để cùng thực hiện các mục tiêu của Chương trình. Mỗi cơ sở cần xác định rõ chiến lược phát triển dài hạn, phù hợp với thế mạnh của mình và nhu cầu xã hội; qua đó, chủ động đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy, cách thức đào tạo. Đẩy mạnh hợp tác doanh nghiệp, hợp tác quốc tế, học hỏi và tiếp thu các mô hình đào tạo tiên tiến. Xây dựng tinh thần luôn luôn đổi mới, quyết tâm và quyết liệt trong công tác...
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Sang cũng có một số kiến nghị: “Một là, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách kịp thời, tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phát huy quyền tự chủ.
Hai là, truyền thông sâu rộng hơn nữa để nâng cao hình ảnh, vị thế của giáo dục nghề nghiệp, từ đó định vị lại vai trò của giáo dục nghề nghiệp trong xã hội, giúp người học và xã hội hiểu về giáo dục nghề nghiệp sâu rộng hơn.
Chúng tôi tin rằng, với sự quyết tâm và đồng hành của Nhà nước cùng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp và xã hội, Chương trình mục tiêu quốc gia sẽ tạo ra bước chuyển mạnh mẽ, bền vững, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh của đất nước trong giai đoạn mới”.
