Chiều ngày 07/01/2025, 2 câu lạc bộ thuộc Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam gồm: Câu lạc bộ khối trường Cao đẳng Kinh doanh và Công nghệ và Câu lạc bộ khối trường cao đẳng y dược tổ chức Tọa đàm trực tuyến góp ý dự thảo Nghị định Quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục nghề nghiệp.

Tham dự tọa đàm có Tiến sĩ Lê Viết Khuyến – Phó Chủ tịch Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam; Thạc sĩ Phạm Ngọc Lan – Trưởng ban Ban Công tác Hội viên, Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam; Nhà giáo Ưu tú, Tiến sĩ Phạm Xuân Khánh – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội, Chủ nhiệm Câu lạc bộ khối trường Cao đẳng Kinh doanh và Công nghệ; Tiến sĩ Phạm Văn Tân – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội, Chủ nhiệm Câu lạc bộ khối trường cao đẳng y dược cùng lãnh đạo, đại diện gần 40 trường cao đẳng trên cả nước.

tham-gia1-1371.jpg
Tọa đàm trực tuyến góp ý dự thảo Nghị định Quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục nghề nghiệp có sự tham gia của gần 40 trường cao đẳng trên cả nước.

Khối trường kinh doanh và công nghệ kiến nghị bổ sung về cách đặt tên, liên kết quốc tế

Phát biểu tại tọa đàm, Nhà giáo Ưu tú, Tiến sĩ Phạm Xuân Khánh – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội, Chủ nhiệm Câu lạc bộ khối trường Cao đẳng Kinh doanh và Công nghệ cho rằng, tại Điều 3 của dự thảo Nghị định về nguyên tắc đặt tên, việc quy định tên cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải phản ánh đúng loại hình, lĩnh vực đào tạo chính là hợp lý nhằm tránh gây nhầm lẫn. Tuy nhiên, khoản 4 quy định cấm sử dụng từ nước ngoài trong tên tiếng Việt có thể hạn chế tính sáng tạo và khả năng quảng bá yếu tố quốc tế của nhà trường. Do đó, thầy Khánh đề xuất cần bổ sung hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng tên nước ngoài gắn với hoạt động hợp tác quốc tế. Đồng thời, cần làm rõ tiêu chí “không gây nhầm lẫn về chất lượng, vị thế, danh hiệu, thứ hạng, loại hình đào tạo, không trùng với tên cơ sở giáo dục nghề nghiệp khác”, bởi hiện nay khái niệm trùng tên hay gây nhầm lẫn chưa có hướng dẫn cụ thể để các trường dễ thực hiện.

Tại Khoản 1, Điều 6 của dự thảo quy định về đổi tên cơ sở giáo dục nghề nghiệp nêu rõ cơ sở chỉ được đổi tên khi điều chỉnh định hướng đào tạo, tái cơ cấu hoặc khi tên hiện tại gây nhầm lẫn. Trên thực tế, theo thầy Khánh, các trường nghề công lập nên được quyền đổi tên trong trường hợp mở những ngành mới, nâng cấp mô hình hoạt động hoặc tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, tổ chức. Vì vậy, cần bổ sung trường hợp đổi tên do quá trình phát triển của nhà trường hoặc nhằm nâng cao vị thế, chẳng hạn cho phép bổ sung các cụm từ như “chất lượng cao” hoặc các tên gọi đặc thù để tăng tính linh hoạt.

Liên quan đến điều kiện, thủ tục và thẩm quyền thành lập phân hiệu, dự thảo quy định phân hiệu phải có diện tích đất và kinh phí tối thiểu bằng 25% so với cơ sở giáo dục nghề nghiệp chính. Tuy nhiên, tại khu vực đô thị, giá đất cao đang trở thành rào cản lớn đối với việc mở phân hiệu mới. Vì vậy, cần cân nhắc giảm tỷ lệ tối thiểu hoặc áp dụng cơ chế định giá linh hoạt theo quy mô đào tạo thực tế, ví dụ quy định diện tích tối thiểu 500–1.000 m² hoặc tỷ lệ vốn từ 20–25%, thay vì ấn định một con số cứng.

Đối với việc cấp phép hoạt động của phân hiệu, tại điểm b, Khoản 1, Điều 14 dự thảo quy định diện tích tối thiểu 5 m² cho một chỗ học. Thầy Khánh cho rằng, quy định này chỉ nên áp dụng với các ngành nghề đặc thù cần nhiều máy móc, thiết bị, còn nhiều ngành như kinh tế, công nghệ thông tin, ... không nhất thiết phải đáp ứng diện tích này.

thay-khanh1-3360.jpg
Nhà giáo Ưu tú, Tiến sĩ Phạm Xuân Khánh – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội phát biểu tại tọa đàm.

Ngoài ra, tại khoản 2, Điều 14 của dự thảo quy định phân hiệu trường trung cấp, cao đẳng được phép đào tạo trình độ trung cấp đối với các ngành nghề đã được cấp phép đào tạo cao đẳng cùng nhóm ngành. Cách hiểu này, nếu được làm rõ, sẽ giúp các trường giảm bớt thủ tục xin phép khi mở đào tạo trình độ trung cấp ở các ngành nghề tương ứng.

Liên quan đến Chương 4 về chế độ phụ cấp, tại khoản 2, Điều 21 của dự thảo quy định nhà giáo dạy nghề vừa giảng dạy lý thuyết vừa thực hành được hưởng phụ cấp ưu đãi 40%. Tuy nhiên, đối với giáo viên chỉ giảng dạy lý thuyết hoặc các môn chung thì chưa được đề cập rõ, do đó cần bổ sung, làm rõ để bảo đảm công bằng. Tại Điều 22 về phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, đề xuất bổ sung quy định dẫn chiếu danh mục ngành nghề theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (cũ) nhằm bảo đảm thống nhất trong áp dụng.

Đối với giảng viên đồng cơ hữu, tại Điều 24 quy định hợp đồng tối thiểu 3 năm và giới hạn 1/3 số giờ giảng là còn cứng nhắc. Chính vì vậy, cần linh hoạt cho phép giảng viên đồng cơ hữu ký hợp đồng từ 1–2 năm và có thể gia hạn khi cần thiết, đồng thời bổ sung chính sách đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ kinh phí để giảng viên đồng cơ hữu yên tâm gắn bó.

Về Chương 5 liên quan đến hợp tác, liên kết đào tạo với nước ngoài, thầy Khánh đề xuất bổ sung quy định cho phép linh hoạt xây dựng chương trình song ngữ, điều chỉnh nội dung phù hợp bối cảnh Việt Nam nhưng không làm thay đổi nội dung cốt lõi, đồng thời làm rõ trách nhiệm của cơ sở giáo dục nghề nghiệp khi tự xác định và mở rộng quy mô đào tạo.

Ngoài ra, nên có quy định về ngôn ngữ biên dịch tài liệu, ví dụ như giảng viên phải đảm bảo khả năng hoặc sử dụng giáo trình có phiên bản tiếng Việt kèm theo. Tại Khoản 8 về quy mô đào tạo, đề xuất cho phép tăng quy mô linh hoạt khi có nhu cầu miễn sao không vượt quá năng lực giảng viên hoặc là cơ sở vật chất của nhà trường đã được phê duyệt; cần đề cập rõ trách nhiệm của trường, chịu trách nhiệm chịu toàn bộ chi phí, nếu mà tuyển sinh vượt quá chỉ tiêu so với cam kết.

Tại tọa đàm, Tiến sĩ Nguyễn Văn Sinh – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Quốc tế Hà Nội đã nêu nhiều ý kiến xoay quanh quy định đặt tên, thành lập phân hiệu của các trường cao đẳng, đồng thời góp ý về khung pháp lý đối với hoạt động hợp tác quốc tế trong giáo dục nghề nghiệp.

Liên quan đến việc đặt tên và đổi tên trường, Tiến sĩ Nguyễn Văn Sinh bày tỏ sự đồng tình với quan điểm cho rằng tên trường cần gắn với địa danh nơi đặt trụ sở chính nhằm tránh trùng lặp, gây nhầm lẫn trong hệ thống. Tên các phân hiệu cũng cần được thống nhất, bảo đảm tính nhận diện và đồng bộ. Bên cạnh đó, theo thầy Sinh, dự thảo cần bổ sung quy định cụ thể về việc sử dụng tên trường trên không gian mạng và các nền tảng công nghệ số, bởi thực tế hiện nay cho thấy việc sử dụng tên gọi thiếu chuẩn mực trên môi trường trực tuyến dễ khiến người học hiểu nhầm về tư cách pháp lý, quy mô và chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Đối với quy định về phân hiệu, Tiến sĩ Nguyễn Văn Sinh cho rằng, ngay từ phần giải thích thuật ngữ, dự thảo cần làm rõ khái niệm “phân hiệu”, đồng thời phân biệt rạch ròi giữa “phân hiệu”, “cơ sở đào tạo” và “địa điểm đào tạo”. Việc làm rõ vị trí pháp lý của phân hiệu là cần thiết, như phân hiệu có con dấu, tài khoản riêng hay không; có bắt buộc phải đặt tại địa phương khác với nơi đặt trụ sở chính hay không. Ngoài ra, cần quy định cụ thể điều kiện để thành lập phân hiệu, đặc biệt trong bối cảnh một số cơ sở chưa có trụ sở ổn định nhưng đã mở nhiều phân hiệu tại nhiều địa phương, tiềm ẩn nguy cơ phá vỡ quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên cùng địa bàn.

Về liên kết quốc tế, Tiến sĩ Nguyễn Văn Sinh đề xuất dự thảo cần quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người học khi tham gia các chương trình trao đổi, hợp tác quốc tế. Đồng thời, cần cụ thể hóa hơn nội dung về trao đổi sinh viên, học viên; làm rõ trách nhiệm của nhà giáo và cán bộ tham gia hoạt động hợp tác quốc tế. Điều này không chỉ bảo đảm tính công bằng mà còn tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, giúp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuận lợi trong quá trình triển khai, đồng thời có cơ chế ràng buộc trách nhiệm khi tham gia các hoạt động hợp tác, liên kết với đối tác nước ngoài.

screenshot-2026-01-07-143609.png
Tiến sĩ Nguyễn Văn Sinh – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Quốc tế Hà Nội chia sẻ ý kiến tại tọa đàm.

Theo đại diện Trường Cao đẳng Gia Lai, khi xây dựng chính sách phụ cấp đặc thù cho đội ngũ giảng viên, cần đặc biệt quan tâm tới các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo cho nhóm đối tượng yếu thế. Thực tế tại Trường Cao đẳng Gia Lai cho thấy, hiện nay có tới 82% người học là người dân tộc thiểu số. Nếu áp dụng chế độ phụ cấp cho giảng viên tương tự như các cơ sở giáo dục nghề nghiệp khác thì sẽ chưa phản ánh đúng tính chất đặc thù, thậm chí tạo ra sự thiệt thòi cho đội ngũ nhà giáo đang công tác tại những trường này. Vì vậy, đại diện nhà trường kiến nghị, đối với các cơ sở có tỷ lệ học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số trên 70% cần được áp dụng chế độ phụ cấp đặc thù cao hơn, nhằm bảo đảm đời sống, đồng thời tạo động lực để giáo viên yên tâm gắn bó, cống hiến lâu dài.

Liên quan đến chính sách học phí, đại diện Trường Cao đẳng Gia Lai cho rằng, đối với các trường miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi có đông người học là người dân tộc thiểu số, việc áp dụng mức học phí như các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ở khu vực thuận lợi là không khả thi. Do điều kiện kinh tế của người học còn nhiều khó khăn, các trường buộc phải duy trì mức học phí rất thấp. Hiện nay, học phí tại Trường Cao đẳng Gia Lai chỉ dao động từ 260.000 đến 360.000 đồng/tháng, mức thu này được đánh giá là quá thấp, khiến nhà trường gặp nhiều thách thức trong quá trình thực hiện tự chủ tài chính.

Từ thực tiễn đó, nhà trường đề xuất cần có chính sách cấp bù học phí cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ở vùng khó khăn, nhằm bảo đảm mức học phí tương đương, tiệm cận với mặt bằng chung của hệ thống, qua đó tạo điều kiện để các trường có thêm nguồn lực duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo. Bên cạnh đó, đại diện Trường Cao đẳng Gia Lai cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất cho các trường nằm trên địa bàn khó khăn. Trong bối cảnh hầu như khó có nguồn thu nào ngoài học phí, nếu không có sự hỗ trợ từ Nhà nước, các cơ sở này sẽ rất khó cải thiện điều kiện cơ sở vật chất cho người học.

Nhiều quy định cần điều chỉnh để phù hợp với công tác đào tạo những ngành đặc thù như y dược

Đối với lĩnh vực y dược, Tiến sĩ Phạm Văn Tân – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội, Chủ nhiệm Câu lạc bộ khối trường cao đẳng y dược cho rằng, một trong những điểm mới đáng chú ý của dự thảo đối với giáo dục nghề nghiệp là quy định về giảng viên đồng cơ hữu, song nội dung này cần được cụ thể hóa và chặt chẽ hơn.

thay-tan1.png
Tiến sĩ Phạm Văn Tân – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội phát biểu tại tọa đàm.

Dẫn Khoản 2, Điều 21 của dự thảo, Tiến sĩ Phạm Văn Tân cho biết, quy định nhà giáo vừa giảng dạy lý thuyết, vừa hướng dẫn thực hành; nhà giáo được phong tặng các danh hiệu như Nhà giáo ưu tú, Thầy thuốc ưu tú, Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ nhân ưu tú trở lên, hoặc có trình độ kỹ năng nghề cao theo Khoản 1 Điều 21, khi tham gia giảng dạy thực hành tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp được hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề ở mức 40%, là phù hợp với các trường nghề nói chung.

Tuy nhiên, theo thầy Tân, đối với khối ngành sức khỏe, cần có những quy định riêng, phù hợp với tính chất đặc thù của lĩnh vực đào tạo. Trên cơ sở đó, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội đề nghị bổ sung các ngành Kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh và Kỹ thuật phục hồi chức năng vào nhóm ngành, nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Việc này nhằm bảo đảm đầy đủ quyền lợi cho cả người học và đội ngũ giảng viên trực tiếp giảng dạy trong các lĩnh vực có tính chất lao động đặc thù, tiềm ẩn nhiều rủi ro về sức khỏe và an toàn nghề nghiệp.

Trong khi đó, Thạc sĩ Nguyễn Hữu Tư – Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường Cao đẳng Y tế và Thiết bị Việt Đức cho rằng, một số quy định trong dự thảo nghị định về đội ngũ giảng viên đồng cơ hữu chưa thực sự phù hợp với đặc thù đào tạo khối ngành sức khỏe.

Theo dự thảo, giảng viên đồng cơ hữu chỉ được tham gia tối đa 40% khối lượng của một chương trình đào tạo. Tuy nhiên, với các ngành đào tạo về y tế – nơi thời lượng thực hành và lâm sàng thường chiếm từ 50–70% chương trình – quy định này bị đánh giá là quá thấp, khó đáp ứng yêu cầu tổ chức đào tạo. Từ thực tiễn đó, Thạc sĩ Nguyễn Hữu Tư đề xuất nâng tỷ lệ tham gia của giảng viên đồng cơ hữu lên khoảng 60% để phù hợp hơn với đặc thù của các ngành đào tạo sức khỏe.

Bên cạnh đó, dự thảo còn yêu cầu giảng viên đồng cơ hữu phải có trình độ từ thạc sĩ trở lên hoặc tương đương. Theo thầy Tư, đây là tiêu chuẩn khá cao so với thực tế nguồn nhân lực trong lĩnh vực y tế, đặc biệt với đội ngũ chuyên gia thực hành, lâm sàng giàu kinh nghiệm. Thầy Tư kiến nghị nên quy định tiêu chuẩn giảng viên đồng cơ hữu tương đương với giảng viên cơ hữu, đồng thời bổ sung điều kiện về thời gian hành nghề thực tế từ 5 năm trở lên để bảo đảm chất lượng đào tạo.

Ngoài ra, thầy Tư cũng đề xuất, dự thảo nghị định cần làm rõ hơn quy trình và thẩm quyền cho phép các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được phát triển, mở mới các ngành, nghề đào tạo chưa có trong danh mục hiện hành, nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động và sự phát triển của xã hội.

Cùng bàn luận về dự thảo nghị định, Thạc sĩ Nguyễn Lê Tuyết Dung – Trưởng phòng Đào tạo Trường Cao đẳng Y tế Bạc Liêu cho rằng, một số nội dung trong dự thảo vẫn còn thiếu hướng dẫn cụ thể, đặc biệt là liên quan đến đội ngũ nhà giáo và chính sách đãi ngộ.

Theo Thạc sĩ Nguyễn Lê Tuyết Dung, tại khoản 4, Điều 1, dự thảo có đề cập đến chính sách phụ cấp và thu hút đối với nhiều nhóm đối tượng, trong đó có “giáo viên đào tạo tài năng nghề”. Tuy nhiên, khái niệm này lại chưa được làm rõ trong toàn văn dự thảo, dẫn đến lúng túng trong quá trình áp dụng. Cô Dung băn khoăn liệu lĩnh vực sức khỏe có thuộc phạm vi của “giáo viên đào tạo tài năng nghề” hay không, và nếu có thì tiêu chí xác định, điều kiện áp dụng cụ thể là gì, từ đó mới có cơ sở triển khai thống nhất.

Bên cạnh đó, đối với Điều 22, cô Dung đề xuất nên thay thuật ngữ “giảng viên đồng cơ hữu” thành “nhà giáo đồng cơ hữu”. Lý do được đưa ra là trong giáo dục nghề nghiệp, đội ngũ tham gia giảng dạy không chỉ gồm giảng viên mà còn có giáo viên đảm nhiệm cả lý thuyết và thực hành. Việc sử dụng thuật ngữ bao quát hơn sẽ phản ánh đúng thực tiễn đào tạo tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Về tiêu chuẩn trình độ, cô Dung cho rằng, yêu cầu đối với giảng viên đồng cơ hữu trong dự thảo hiện nay là quá cao so với điều kiện thực tế. Nhà trường hiện đang đào tạo các ngành như Điều dưỡng, Hộ sinh, Y sĩ, song dự thảo chỉ đưa ra chuẩn gắn với Bác sĩ, Dược sĩ, điều này sẽ gây khó khăn cho nhiều cơ sở đào tạo y tế trong việc huy động đội ngũ tham gia giảng dạy.

Ngoài ra, quy định nhà giáo đồng cơ hữu phải tham gia tối thiểu một phần ba chương trình giảng dạy của một môn học được đánh giá là khó khả thi. Trong khi đó, quy định mức tối đa 40% tổng số giờ giảng dạy của một chương trình đào tạo lại mang tính khái quát, dễ gây cách hiểu khác nhau và phát sinh vướng mắc trong phân công giảng dạy giữa đội ngũ nhà giáo cơ hữu và đồng cơ hữu tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Còn theo đại diện Trường Cao đẳng Y tế Hồng Đức, quy định hiện hành về tiêu chuẩn giảng viên trong lĩnh vực y tế còn bộc lộ những vướng mắc nhất định, chưa thực sự phù hợp với đặc thù đào tạo của ngành.

Cụ thể, để được công nhận là nhà giáo giáo dục nghề nghiệp, giảng viên ngành y tế hiện nay phải có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm. Trong khi đó, nhiều bác sĩ chuyên môn đang tham gia giảng dạy tại trường chỉ có chứng chỉ sư phạm y học, nhưng lại đầy đủ các chứng chỉ liên quan đến giảng dạy lâm sàng tại cơ sở y tế. Việc không có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm khiến đội ngũ này chưa được công nhận chính thức là nhà giáo giáo dục nghề nghiệp, gây khó khăn cho các cơ sở đào tạo trong việc bố trí và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng. Từ thực tế này, nhà trường đề xuất xem xét điều chỉnh tiêu chuẩn, công nhận chứng chỉ sư phạm y học tương đương với chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm, nhằm tạo điều kiện để các bác sĩ chuyên môn đủ điều kiện tham gia giảng dạy.

Bên cạnh đó, đại diện Trường Cao đẳng Y tế Hồng Đức cũng cho biết, đào tạo ngành y tế có đặc thù là có đến khoảng 70% thời lượng học tập của người học diễn ra tại bệnh viện và các cơ sở y tế thực hành. Do vậy, các quy định về tỷ lệ diện tích sinh viên trên mét vuông nếu áp dụng chung như các ngành khác sẽ chưa thực sự phù hợp. Nhà trường kiến nghị cơ quan soạn thảo xem xét điều chỉnh tỷ lệ này theo hướng linh hoạt hơn, qua đó tạo điều kiện mở rộng quy mô tuyển sinh, đáp ứng nhu cầu nhân lực y tế trong bối cảnh hiện nay.

Kết luận tọa đàm, Tiến sĩ Lê Viết Khuyến – Phó Chủ tịch Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam bày tỏ, một số vấn đề về chuyên môn và học thuật trong dự thảo Nghị định vẫn chưa được phân tích, làm rõ một cách đầy đủ. Theo lãnh đạo Hiệp hội, phân luồng trong giáo dục có ý nghĩa then chốt, quyết định đến việc hình thành cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Dẫn kinh nghiệm quốc tế, Tiến sĩ Lê Viết Khuyến cho biết tại Đài Loan (Trung Quốc), tỷ lệ học sinh sau trung học cơ sở vào trung học nghề chiếm tới 60–70%, trong khi chỉ khoảng 30% tiếp tục theo học giáo dục phổ thông. Cơ cấu này được đánh giá là phù hợp hơn với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Ngược lại, tại Việt Nam, tỷ lệ phân luồng hiện nay còn mất cân đối, với khoảng 80% học sinh vào giáo dục phổ thông, trong khi giáo dục nghề nghiệp chỉ thu hút khoảng 20%.

Hiện nay, cả nước hiện có khoảng 2.400 trường trung học phổ thông, trong khi chỉ có khoảng 400 cơ sở trung cấp - xu hướng chuyển đổi mô hình sang trường trung học nghề. Việc chênh lệch quá lớn về số lượng trường trung học phổ thông và trường trung học nghề có thể tạo ra một cơ cấu nguồn nhân lực “méo mó”, đòi hỏi phải sớm tính toán, sắp xếp và tái cấu trúc lại hệ thống giáo dục cho phù hợp với nhu cầu phát triển.

Tiến sĩ Lê Viết Khuyến cũng nhận định, Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) mới ban hành đã cho chúng ta thấy rõ một số hạn chế của hệ thống giáo dục nghề nghiệp trước đây. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là với cơ cấu đào tạo mới, các chương trình chuẩn do Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp (thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cũ) ban hành sẽ được điều chỉnh ra sao. Theo Tiến sĩ Lê Viết Khuyến, những thành quả đã được xây dựng cần được kế thừa, tránh tư duy “làm lại từ đầu”, bởi nếu xóa bỏ toàn bộ để xây dựng lại sẽ đồng nghĩa với việc bắt đầu từ con số không.

Tường San