Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng dự thảo Nghị định quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với viên chức và người lao động công tác trong các cơ sở giáo dục công lập, hiện đã gửi Bộ Tư pháp thẩm định.
Theo dự thảo, trong giai đoạn từ 1/1/2026 đến hết 31/12/2030, chính sách phụ cấp ưu đãi nghề được thiết kế theo lộ trình quá độ, tiếp tục phân theo đối tượng, cấp học và điều kiện làm việc, với các mức phụ cấp dự kiến dao động từ 30% đến 80% đối với giáo viên, nhân viên trường học hưởng mức 20%.
Phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam đã ghi nhận góp ý của một số lãnh đạo cơ sở giáo dục về nội dung này.
Băn khoăn về mức phụ cấp ưu đãi với giáo viên dạy người khuyết tật
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Vũ Văn Khoát - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Đoàn Thượng (xã Gia Phúc, thành phố Hải Phòng) cho hay: Trong bối cảnh giáo dục được xác định là “quốc sách hàng đầu”, đầu tư cho nhà giáo chính là đầu tư cho tương lai. Một chính sách phụ cấp ưu đãi theo nghề hợp lý không chỉ cải thiện đời sống giáo viên, mà còn tạo nền tảng vững chắc để ngành giáo dục phát triển bền vững, đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập.
Tuy nhiên cũng cần có sự cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo công bằng, bao quát và phù hợp với thực tiễn. Theo thầy Khoát, một trong các trường hợp nhà giáo được hưởng mức phụ cấp ưu đãi 45% là người giảng dạy trong lớp học có dưới 50% học sinh, sinh viên là người khuyết tật.
"Nội dung này cần cân nhắc kỹ lưỡng vì nếu lớp có 1 học sinh khuyết tật cũng nằm trong nhóm lớp này (lớp có dưới 50% học sinh là người khuyết tật). Đồng thời, có giáo viên chỉ dạy có 1 tiết/tuần ở 1 lớp này thôi cũng đã nằm trong nhóm hưởng mức phụ cấp ưu đãi 45% thì so với giáo viên khác chưa tương quan", thầy Khoát nêu quan điểm.
Đồng tình với quan điểm này, hiệu trưởng một trường trung học cơ sở tại phường Hồng An, thành phố Hải Phòng cho rằng: Chính sách phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo giảng dạy học sinh khuyết tật là cần thiết và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, nhằm ghi nhận những khó khăn đặc thù, áp lực chuyên môn và yêu cầu sư phạm cao hơn so với giảng dạy thông thường. Tuy nhiên, trong số các trường hợp được hưởng mức phụ cấp ưu đãi 45%, quy định áp dụng cho “người giảng dạy trong lớp học có dưới 50% học sinh, sinh viên là người khuyết tật” đang bộc lộ một số điểm chưa hợp lý, cần được cân nhắc và điều chỉnh.
Trước hết, cách xác định đối tượng hưởng phụ cấp theo tiêu chí “lớp học có dưới 50% học sinh là người khuyết tật” quá rộng và thiếu phân hóa mức độ thực tế của công việc giảng dạy. Theo đó, chỉ cần lớp học có 1 học sinh khuyết tật thì về mặt tỷ lệ, lớp đó vẫn thuộc nhóm “dưới 50% học sinh là người khuyết tật”. Điều này dẫn đến nghịch lý: giáo viên dạy lớp có 1 học sinh khuyết tật được xếp chung nhóm hưởng phụ cấp ưu đãi 45% với giáo viên dạy lớp có 40–49% học sinh khuyết tật, trong khi mức độ khó khăn, yêu cầu điều chỉnh phương pháp dạy học và khối lượng hỗ trợ là hoàn toàn khác nhau. Việc “cào bằng” như vậy chưa phản ánh đúng bản chất của lao động sư phạm đặc thù.
Thứ hai, quy định hiện hành chưa tính đến mức độ tham gia giảng dạy thực tế của giáo viên đối với lớp học có học sinh khuyết tật. Trên thực tế, có giáo viên chỉ dạy 1 tiết/tuần ở một lớp thuộc nhóm này, nhưng vẫn đủ điều kiện để hưởng mức phụ cấp ưu đãi 45% cho toàn bộ công việc giảng dạy của mình. Trong khi đó, nhiều giáo viên khác không giảng dạy học sinh khuyết tật, hoặc giảng dạy trong điều kiện khó khăn khác (lớp đông học sinh, khối lượng công việc lớn) lại không được hưởng mức phụ cấp tương đương. Sự thiếu tương quan này dễ gây tâm lý so sánh, thiếu đồng thuận trong đội ngũ nhà giáo, ảnh hưởng đến tính công bằng và sự thuyết phục của chính sách.
Thứ ba, quy định hiện tại chưa làm rõ tiêu chí đánh giá mức độ hỗ trợ đặc biệt mà giáo viên phải thực hiện đối với học sinh khuyết tật. Không phải mọi trường hợp học sinh khuyết tật đều đòi hỏi sự can thiệp sư phạm ở mức cao như nhau. Có những học sinh hòa nhập tốt, mức độ hỗ trợ không quá lớn; ngược lại, có những trường hợp cần giáo viên đầu tư nhiều thời gian, công sức, thậm chí điều chỉnh giáo án, phương pháp và hình thức kiểm tra đánh giá. Việc chỉ căn cứ vào tỷ lệ học sinh khuyết tật trong lớp, mà không gắn với mức độ và thời lượng hỗ trợ thực tế, khiến chính sách dễ rơi vào hình thức, chưa sát với thực tiễn giảng dạy.
Từ đó, có thể thấy nội dung quy định này cần được rà soát và hoàn thiện theo hướng chặt chẽ, công bằng và hợp lý hơn. Có thể cân nhắc các phương án như: quy định ngưỡng tối thiểu về số lượng học sinh khuyết tật; tính phụ cấp theo số tiết hoặc tỷ lệ thời gian trực tiếp giảng dạy học sinh khuyết tật; hoặc phân tầng mức phụ cấp theo mức độ khó khăn và tỷ lệ học sinh khuyết tật trong lớp. Chỉ khi chính sách phản ánh đúng thực tế lao động sư phạm, phụ cấp ưu đãi mới thực sự phát huy ý nghĩa động viên, khích lệ và tạo được sự đồng thuận trong đội ngũ nhà giáo.
Cần làm rõ hơn tiêu chí xác định các nhóm vị trí việc làm để cơ sở giáo dục áp dụng thống nhất
Việc xây dựng và ban hành chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề có ý nghĩa quan trọng, góp phần động viên, khích lệ người lao động yên tâm công tác, gắn bó lâu dài với ngành. Trong đó, việc dự thảo đề cập đến các vị trí việc làm nhân viên trường học được hưởng mức phụ cấp 20% đã mang đến niềm vui lớn cho đội ngũ này.
Theo hiệu trưởng một trường trung học cơ sở tại phường Hồng An, thành phố Hải Phòng, về cơ bản, đề xuất áp dụng mức phụ cấp ưu đãi 20% đối với nhân viên trường học là hợp lý, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với lực lượng giữ vai trò quan trọng trong hoạt động hỗ trợ, phục vụ công tác dạy học nhưng lâu nay chưa được hưởng hoặc được được hưởng rất hạn chế các chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề.
Mức phụ cấp ưu đãi 20% cũng phù hợp với tính chất, vai trò công việc của các vị trí hỗ trợ và chuyên môn không trực tiếp giảng dạy, đồng thời có sự phân biệt rõ ràng với mức phụ cấp ưu đãi áp dụng đối với nhà giáo (từ 30% đến 80%). Qua đó bảo đảm nguyên tắc ưu đãi theo tính chất nghề nghiệp, mức độ cống hiến và trách nhiệm chuyên môn của từng nhóm đối tượng.
Tuy nhiên, để việc triển khai được thống nhất, cần làm rõ hơn tiêu chí xác định các nhóm vị trí việc làm như “chức danh nghề nghiệp chuyên môn dùng chung” và “vị trí việc làm công tác hỗ trợ, phục vụ”, tránh cách hiểu và áp dụng khác nhau giữa các cơ sở giáo dục.
Bên cạnh đó, việc áp dụng phụ cấp ưu đãi 20% cho toàn bộ đội ngũ nhân viên trường học sẽ làm gia tăng chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước, đặc biệt tại các địa phương có số lượng lớn cơ sở giáo dục công lập và đội ngũ viên chức, người lao động đông. Do vậy, cần đánh giá kỹ lưỡng tác động ngân sách, khả năng cân đối nguồn kinh phí của từng địa phương và có phương án triển khai phù hợp, bảo đảm tính khả thi, hiệu quả và bền vững khi thực hiện đồng loạt trên phạm vi toàn quốc.
Cùng bàn về vấn đề này, cô giáo Phạm Thị Ngà - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Nguyễn Đức Cảnh (phường An Biên, thành phố Hải Phòng) cho rằng, nhóm chức danh nghề nghiệp chuyên môn dùng chung có thể hiểu gồm các vị trí: kế toán, văn thư, thư viện, thiết bị,…
Nhóm vị trí việc làm công tác hỗ trợ, phục vụ bao gồm: y tế học đường, bảo vệ, phục vụ, tạp vụ, lao công, nấu ăn…
Còn nhóm chức danh nghề nghiệp chuyên ngành (không bao gồm giáo viên, giảng viên) là người đảm nhiệm vị trí tư vấn tâm lý học đường.
Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề 20% cho viên chức, người lao động trong các cơ sở giáo dục công lập (đặc biệt là nhóm nhân viên trường học) mang nhiều ý nghĩa quan trọng, cả về quyền lợi cá nhân lẫn sự phát triển bền vững của nhà trường.
Trước hết, phụ cấp ưu đãi theo nghề góp phần cải thiện thu nhập cho đội ngũ nhân viên trường học - lực lượng lâu nay chưa được hưởng các chế độ ưu đãi so với giáo viên, mặc dù cùng tham gia vào việc vận hành hệ thống giáo dục quốc dân.
Mặt khác, phần lớn nhân viên đã được bồi dưỡng nâng chuẩn, đáp ứng yêu cầu về bằng cấp nghề nghiệp nhưng vẫn chưa được chuyển đổi hạng chức danh nghề nghiệp tương ứng, phù hợp nên hệ số lương thấp hơn nhiều so với giáo viên.
Với mức phụ cấp 20%, người lao động có thêm nguồn thu nhập ổn định hàng tháng, giảm bớt áp lực đời sống, nhất là trong bối cảnh giá cả sinh hoạt ngày càng tăng.
Quan trọng hơn, chính sách này thể hiện sự ghi nhận và tôn vinh đúng mức vai trò của các vị trí như kế toán, văn thư, thư viện, thiết bị, y tế học đường, công nghệ thông tin, bảo vệ, phục vụ… Đây không phải là những vị trí công việc tác động trực tiếp đến người học thông qua giờ lên lớp trong nhà trường nhưng giữ vai trò thiết yếu trong việc bảo đảm hoạt động dạy học diễn ra an toàn, thông suốt và hiệu quả.
Bên cạnh đó, phụ cấp ưu đãi theo nghề còn có tác động tích cực đến tâm lý, động lực làm việc và sự gắn bó lâu dài của người lao động với nhà trường, hạn chế tình trạng so sánh, thiệt thòi hoặc xin chuyển công tác ra ngoài ngành giáo dục.
Đối với tập thể nhà trường, chế độ phụ cấp này góp phần ổn định đội ngũ nhân viên, giảm biến động nhân sự ở các vị trí hỗ trợ - phục vụ vốn khó tuyển và khó giữ người. Khi người lao động yên tâm công tác, các hoạt động quản lý, phục vụ và hỗ trợ chuyên môn được duy trì liên tục, hiệu quả hơn.
Chính sách này cũng giúp tăng cường tinh thần đoàn kết, công bằng nội bộ, tạo sự đồng thuận, hợp tác giữa giáo viên và nhân viên, từ đó hình thành môi trường làm việc tích cực, trách nhiệm và chuyên nghiệp trong nhà trường. Đây là yếu tố quan trọng để nhà trường nâng cao chất lượng quản trị, vận hành các hoạt động chuyên môn, xây dựng văn hóa tổ chức và hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục toàn diện.
Có thể khẳng định, phụ cấp ưu đãi theo nghề không chỉ là chính sách về tiền lương, mà còn là đòn bẩy tinh thần, góp phần củng cố nền tảng nhân sự và thúc đẩy sự phát triển bền vững của mỗi cơ sở giáo dục công lập.