Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố dự thảo quyết định phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam.
Trong đó, Khoản 1, Điều 7 của dự thảo quy định: chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao có đặc thù tuyển sinh sớm từ bậc tiểu học hoặc trung học cơ sở; đào tạo kéo dài và tích lũy theo lộ trình; thực hiện đào tạo song song giữa năng khiếu chuyên môn và chương trình giáo dục phổ thông. Việc xác định và công nhận trình độ đạt được của người học thực hiện trên cơ sở kết quả học tập, rèn luyện đạt được và đối chiếu với mô tả bậc trình độ tương ứng trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam, không phụ thuộc vào độ tuổi, thời điểm bắt đầu học hoặc tên gọi chương trình đào tạo.
Theo lãnh đạo một số cơ sở giáo dục đại học đào tạo lĩnh vực nghệ thuật, việc ghi nhận rõ các đặc thù đào tạo trong Khung trình độ quốc gia không chỉ tạo hành lang pháp lý thống nhất cho các cơ sở đào tạo, mà còn phù hợp với thông lệ quốc tế.
Tạo cơ sở pháp lý cho việc liên thông, phù hợp với thông lệ quốc tế
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Huy Phương - Bí thư Đảng ủy Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam cho rằng, việc dự thảo ghi nhận đặc thù tuyển sinh sớm, đào tạo kéo dài và tích lũy theo lộ trình đối với lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật và thể dục – thể thao là một bước tiến rất quan trọng, có ý nghĩa tháo gỡ căn bản những vướng mắc tồn tại nhiều năm trong đào tạo nghệ thuật và thể thao thành tích cao.
Theo thầy Phương, đặc thù của các lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật và thể dục – thể thao là quá trình phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu thường bắt đầu từ rất sớm. Đồng thời, việc hình thành năng lực nghề nghiệp đòi hỏi thời gian rèn luyện dài hạn, liên tục, phải thực hiện đào tạo song song giữa chuyên môn năng khiếu và chương trình giáo dục phổ thông.
Do đó, việc ghi nhận rõ các đặc thù này trong Khung trình độ quốc gia không chỉ tạo hành lang pháp lý thống nhất cho các cơ sở đào tạo, mà còn khẳng định cách tiếp cận dựa trên năng lực và kết quả tích lũy thực tế của người học, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Cũng theo thầy Phương, quá trình đào tạo nghệ sĩ, vận động viên có thể bắt đầu ngay từ lứa tuổi tiểu học và thường được tổ chức theo lộ trình kéo dài. Thậm chí việc đào tạo dài hơn rất nhiều so với khung thời gian đào tạo thông thường áp dụng cho nhiều ngành, nghề khác nhau ở các bậc trung học nghề, trung cấp chuyên nghiệp. Đặc thù này gắn liền với việc đào tạo song song giữa năng khiếu nghệ thuật và giáo dục phổ thông nhằm bảo đảm sự phát triển toàn diện của người học.
Vì vậy, việc xác định và công nhận trình độ đạt được của người học thực hiện trên cơ sở kết quả học tập, rèn luyện đạt được và đối chiếu với mô tả bậc trình độ tương ứng trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam, không phụ thuộc vào độ tuổi, thời điểm bắt đầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Quy định này tạo cơ sở pháp lý cho việc liên thông và công nhận trình độ theo năng lực tương thích, thay vì bó buộc cứng nhắc vào độ tuổi hay thời điểm bắt đầu học, qua đó bảo đảm tính linh hoạt, công bằng và phù hợp với thực tiễn đào tạo nghệ thuật và thể thao.
Cùng chung quan điểm, Nghệ sĩ Ưu tú, Tiến sĩ Bùi Như Lai - Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội cho rằng, quy định ghi nhận đặc thù đào tạo sớm, kéo dài và tích lũy theo lộ trình trong dự thảo là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với các ngành đào tạo đặc thù về năng khiếu nghệ thuật như: xiếc, múa, mỹ thuật, bởi người theo học những lĩnh vực này cần có thời gian đào tạo chuyên sâu về hình thể, kỹ năng, thể chất từ nhỏ.
Việc công nhận trình độ dựa trên kết quả thực tế, không phụ thuộc vào độ tuổi hay thời điểm bắt đầu được quy định trong dự thảo là hợp lý. Sự tập trung vào chuẩn đầu ra gồm: kiến thức, kỹ năng, năng lực tự chủ và khối lượng học tập tối thiểu, thay vì chỉ dựa trên thời gian học giúp đảm bảo công nhận năng lực thực chất của người học, hỗ trợ liên thông và hội nhập quốc tế. Đồng thời, điều này cũng cho phép công nhận kinh nghiệm thực tế và các hình thức học tập khác nhau, từ đó, tạo điều kiện cho người học có động lực học tập, nâng cao kỹ năng, phát huy năng lực sáng tạo và cống hiến.
Còn theo Tiến sĩ Phan Lê Chung - Phó Bí thư Đảng ủy, Trường Đại học Nghệ thuật (Đại học Huế), việc dự thảo có các nội dung quy định cụ thể về chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực văn hoá nghệ thuật đã cho thấy sự quan tâm của Đảng và Chính phủ đối với lĩnh vực này. Điều này cũng là sự khích lệ, động viên dành cho các trường thuộc lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và thể thao trong công tác đào tạo.
Đối với lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật hay thể thao, thời gian học tập và đào tạo tài năng đôi khi tỷ lệ thuận với nhau, nhiều trường hợp sinh viên có năng khiếu chỉ cần một thời gian vừa đủ cũng có thể phát huy được sở trường năng lực của mình, nên việc ghi nhận đặc thù đào tạo sớm, kéo dài và tích lũy theo lộ trình là hợp lý.
Song, cần có một khung chuẩn cơ bản để các cơ sở đào tạo có thể định lượng thời gian học một cách cụ thể. Hiện nay, đã có nhiều đơn vị đào tạo chuẩn bị các bộ tiêu chí đánh giá năng lực bám sát với các yêu cầu đầu vào và đầu ra của Bộ Giáo dục và Đào tạo để tiến hành kiểm định chất lượng nội bộ và đánh giá ngoài.
Tuy nhiên, để có các tiêu chuẩn, tiêu chí thống nhất chung, cần một khoảng thời gian đánh giá, chỉnh sửa, bổ sung phù hợp với điều kiện thực tế, năng lực của các học sinh, sinh viên ở nhiều lứa tuổi khác nhau. Việc này cũng không nên cứng nhắc, mà nên có một dải biên độ để các đơn vị có thể có cơ chế điều chỉnh và quy đổi các điều kiện phù hợp với năng lực đào tạo của mình.
Công nhận học tập trước không đồng nghĩa với nới lỏng chuẩn đào tạo
Đáng chú ý, Khoản 4, Điều 7 của dự thảo nêu: "Khuyến khích việc công nhận học tập trước. Các cơ sở đào tạo có trách nhiệm xây dựng quy trình đánh giá và công nhận các giải thưởng nghệ thuật, thành tích thi đấu và kinh nghiệm biểu diễn thực tế của người học để quy đổi thành tín chỉ tích lũy hoặc miễn giảm một phần nội dung đào tạo tương ứng trong chương trình chính quy".
Chia sẻ về nội dung này trong dự thảo, theo thầy Phan Lê Chung, việc khuyến khích công nhận học tập trước sẽ tạo điều kiện sớm để định hướng nghề nghiệp, định hướng lĩnh vực chuyên sâu để nhà trường tập trung đào tạo được đội ngũ tinh hoa về lĩnh vực văn hoá nghệ thuật.
Song, quá trình xây dựng quy trình đánh giá cần bám sát thực tiễn, nên có giai đoạn chuyển tiếp, giai đoạn thí điểm trước khi chính thức triển khai. Trong quá trình triển khai, cần phải có kế hoạch đánh giá chất lượng để kịp thời điều chỉnh nếu có vướng mắc.
Còn theo thầy Bùi Như Lai, công nhận học tập trước là quá trình xem xét, đánh giá các kết quả học tập, kỹ năng và năng lực mà người học đã tích lũy được từ trước đó qua tự học hay thực tiễn làm việc. Kết quả công nhận này được dùng để miễn trừ một phần nội dung đào tạo chính thức hoặc làm căn cứ cho việc liên thông, chuyển đổi giữa các trình độ, nhưng không thay thế việc cấp văn bằng, chứng chỉ.
Việc công nhận học tập trước có ý nghĩa ghi nhận những thành tựu trong thực tế thi đấu, biểu diễn và công nhận những giải thưởng nghệ thuật mà người học đã đạt được, đồng thời tạo động lực cho người học tích cực phát huy năng lực học tập, sáng tạo để tạo ra những sản phẩm văn hóa, nghệ thuật có giá trị cao.
Cũng theo thầy Lai, các đơn vị đào tạo cần đặc biệt lưu ý khi triển khai thực hiện quá trình xây dựng quy trình đánh giá và công nhận các giải thưởng nghệ thuật, thành tích thi đấu và kinh nghiệm biểu diễn thực tế của người học để quy đổi thành tín chỉ tích lũy hoặc miễn giảm một phần nội dung đào tạo tương ứng. Cụ thể, việc đối chiếu giải thưởng, thành tích cần gắn với các yêu cầu về mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể của chương trình đào tạo; chuẩn đầu vào; chuẩn đầu ra về kiến thức, kỹ năng, mức độ tự chủ và tự chịu trách nhiệm; khối lượng học tập cũng như nội dung của chương trình đào tạo.
Ngoài ra, cần chú trọng đến định mức được miễn giảm, công nhận học tập tối đa theo đúng quy định hiện hành. Ví dụ như với trình độ đại học, theo Thông tư 08/2021/TT-BGDĐT Ban hành quy chế đào tạo trình độ đại học, việc công nhận kết quả học tập và chuyển đổi tín chỉ không vượt quá 50% khối lượng học tập tối thiểu của chương trình đào tạo.
Trong khi đó, theo thầy Nguyễn Huy Phương, trong lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật và thể dục – thể thao, năng lực nghề nghiệp của người học không chỉ được hình thành trong khuôn khổ chương trình đào tạo chính quy, mà còn được tích lũy rất lớn thông qua biểu diễn, thi đấu, tham gia dự án nghệ thuật, các cuộc thi và hoạt động nghề nghiệp thực tiễn. Nhiều trường hợp, thành tích thực tế phản ánh trực tiếp mức độ năng lực mà chương trình đào tạo hướng tới.
Việc khuyến khích công nhận học tập trước có ý nghĩa quan trọng trong việc ghi nhận đúng giá trị của năng lực đã hình thành, tạo động lực cho người học chủ động tham gia hoạt động nghề nghiệp, đồng thời tăng tính linh hoạt và hiệu quả của lộ trình đào tạo. Tuy nhiên, công nhận học tập trước không đồng nghĩa với nới lỏng chuẩn đào tạo, mà là đánh giá đúng năng lực theo chuẩn đầu ra bằng những hình thức phù hợp.
Do đó, khi xây dựng quy trình đánh giá và quy đổi, các cơ sở đào tạo cần bảo đảm mọi kết quả công nhận đều gắn trực tiếp với chuẩn đầu ra và yêu cầu năng lực của bậc trình độ tương ứng, có tiêu chí minh bạch, minh chứng kiểm chứng được và cơ chế thẩm định chuyên môn rõ ràng. Quy trình cũng cần xác định cụ thể phạm vi được công nhận, thẩm quyền quyết định và trách nhiệm giải trình, qua đó vừa khuyến khích tài năng, vừa bảo đảm chuẩn chất lượng và tính tin cậy của văn bằng, chứng chỉ.
Thầy Phương cũng đề xuất, dự thảo nên tập trung làm rõ một số nguyên tắc cốt lõi như: thừa nhận đặc thù tuyển sinh sớm và đào tạo kéo dài theo lộ trình; bảo đảm đào tạo song song giữa năng khiếu chuyên môn và giáo dục phổ thông; công nhận trình độ và liên thông trên cơ sở năng lực thực tế của người học, đối chiếu với yêu cầu đầu vào của từng bậc trình độ trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam, thay vì phụ thuộc cứng nhắc vào độ tuổi hay thời gian đào tạo.
Đồng thời, các quy định trong Điều 7 của dự thảo nên dừng ở việc xác lập các yêu cầu tối thiểu mang tính định hướng, tránh bó trần hoặc làm cứng hệ thống bằng các thông số kỹ thuật chi tiết. Những nội dung cần mức độ chi tiết và linh hoạt cao hơn nên được tiếp tục quy định trong chuẩn đầu ra của các nhóm ngành văn hóa – nghệ thuật, thể dục – thể thao và trong các thông tư, quy định hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhằm bảo đảm tính khả thi và phù hợp với thực tiễn đào tạo.
