Theo Thông tư 09/2022/TT-BGDĐT quy định danh mục thống kê ngành đào tạo của giáo dục đại học, nhóm ngành Kỹ thuật y học gồm các ngành: Kỹ thuật xét nghiệm y học, Kỹ thuật hình ảnh y học và Kỹ thuật Phục hồi chức năng.
Nhóm ngành Kỹ thuật y học đang được nhiều cơ sở giáo dục đại học mở đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực trong lĩnh vực y tế. Theo tìm hiểu của phóng viên, giữa các trường công lập và tư thục tại khu vực miền Trung có những khác biệt nhất định về điểm chuẩn tuyển sinh, thời điểm mở ngành, đội ngũ giảng viên cũng như điều kiện đào tạo.
3/3 trường tư thục có điểm chuẩn bằng điểm sàn là 17 điểm
Theo thống kê của phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, ở khu vực miền Trung có 8 cơ sở giáo dục đại học đào tạo từ 1-3 ngành thuộc nhóm ngành Kỹ thuật y học, gồm: Trường Đại học Tây Nguyên, Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng, Trường Đại học Y khoa Vinh, Trường Y Dược - Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế, Trường Đại học Phan Thiết, Trường Đại học Phan Châu Trinh và Trường Đại học Đông Á.
Trong số các cơ sở này, có 4 trường đại học chuyên đào tạo lĩnh vực sức khỏe là Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng, Trường Đại học Y khoa Vinh, Trường Y Dược - Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế. Còn lại 4 trường là cơ sở giáo dục đại học đào tạo đa ngành.
Bên cạnh đó, trong số 8 cơ sở giáo dục trên, có 5 cơ sở giáo dục công lập là Trường Đại học Tây Nguyên, Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng, Trường Đại học Y khoa Vinh, Trường Y Dược - Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế, còn lại 3 cơ sở giáo dục là tư thục.
Theo thông tin tuyển sinh, thông báo điểm chuẩn năm 2025, các trường đại học công lập có chỉ tiêu, điểm chuẩn, tổ hợp xét tuyển theo phương thức xét kết quả kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông như sau:
| STT | Tên trường | Tên ngành | Chỉ tiêu | Tổ hợp xét tuyển | Điểm chuẩn | Năm bắt đầu đào tạo |
| 1 | Trường Đại học Tây Nguyên | Kỹ thuật xét nghiệm y học | 50 | B00, B08, B03, D07 | 24,01 | 2015 |
| 2 | Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng | Kỹ thuật xét nghiệm y học | 150 | A00, B00, B08, D07 | 20,85 | 2013 |
| Kỹ thuật hình ảnh y học | 100 | A00, B00, B08, D07 | 20,2 | 2014 | ||
| Kỹ thuật Phục hồi chức năng | 120 | A00, B00, B08, D07 | 21,1 | 2014 | ||
| 3 | Trường Đại học Y khoa Vinh | Kỹ thuật xét nghiệm y học | 60 | A00, B00, D07 | 20 | 2016 |
| 4 | Trường Y Dược - Đại học Đà Nẵng | Kỹ thuật xét nghiệm y học | 50 | B00, B08, A00, D07 | 19,85 | 2023 |
| 5 | Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế | Kỹ thuật xét nghiệm y học | 170 | B00, B08, D07 | 17,25 | 1999 |
| Kỹ thuật hình ảnh y học | 100 | A00, B00, B08, D07 | 19 | 1999 |
Đối với các cơ sở giáo dục đại học tư thục, chỉ tiêu, điểm chuẩn, tổ hợp xét tuyển nhóm ngành này theo phương thức xét kết quả kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025 như sau:
| STT | Tên trường | Tên ngành | Chỉ tiêu | Tổ hợp xét tuyển | Điểm chuẩn | Năm bắt đầu đào tạo |
| 1 | Trường Đại học Phan Thiết | Kỹ thuật xét nghiệm y học | 40 | B00, D07, D08 | 17 | 2022 |
| 2 | Trường Đại học Phan Châu Trinh | Kỹ thuật xét nghiệm y học | 50 | A00, A01, B00, B08, D07 | 17 | 2019 |
| 3 | Trường Đại học Đông Á | Kỹ thuật Phục hồi chức năng | 50 | A00, A02, B00, B03, B08, D07, X11, X13, X14 | 17 | 2024 |
Có thể thấy, với nhóm ngành Kỹ thuật y học, đa số các trường sử dụng từ 3-5 tổ hợp xét tuyển. Riêng Trường Đại học Đông Á sử dụng 9 tổ hợp xét tuyển.
Theo quy định, các cơ sở đào tạo nhân lực y tế có cấp chứng chỉ hành nghề, dù là công lập hay tư thục, đều phải đáp ứng ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Năm 2025, các ngành Kỹ thuật xét nghiệm y học, Kỹ thuật hình ảnh y học, Kỹ thuật Phục hồi chức năng có điểm sàn là 17 điểm.
Cơ sở giáo dục đại học công lập đào tạo nhóm ngành Kỹ thuật y học ở khu vực miền Trung có điểm chuẩn dao động từ 17,25 - 24,01 điểm. Trường có điểm chuẩn cao nhất nhóm này là Trường Đại học Tây Nguyên, trường có điểm chuẩn thấp nhất là Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế. Trong khi đó, 3/3 cơ sở giáo dục đại học tư thục có điểm chuẩn chỉ bằng điểm sàn là 17 điểm.
Xét về năm bắt đầu đào tạo, có thể thấy sự khác biệt khá rõ giữa khối trường công lập và trường tư thục.
Ở khối công lập, nhiều ngành thuộc nhóm Kỹ thuật y học đã được triển khai đào tạo từ khá sớm. Chẳng hạn, Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế bắt đầu đào tạo từ năm 1999, cho thấy đây là một trong những cơ sở có truyền thống lâu năm trong lĩnh vực này. Một số trường khác như Trường Đại học Kỹ thuật Y – Dược Đà Nẵng hay Trường Đại học Tây Nguyên cũng mở ngành từ giai đoạn 2013-2015, thể hiện quá trình mở rộng đào tạo diễn ra tương đối sớm trong hệ thống trường công.
Trong khi đó, khối trường tư thục tham gia đào tạo các ngành này muộn hơn đáng kể, chủ yếu từ giai đoạn 2019-2024. Ví dụ, Trường Đại học Phan Châu Trinh bắt đầu đào tạo từ năm 2019, Trường Đại học Phan Thiết từ năm 2022, và Trường Đại học Đông Á mới tuyển sinh ngành Kỹ thuật phục hồi chức năng từ năm 2024.
Nhiều trường không có giáo sư, phó giáo sư giảng dạy nhóm ngành Kỹ thuật y học
Theo số liệu tổng hợp của Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), tính đến ngày 31/12/2025, ở khu vực miền Trung có 3 chương trình đào tạo Kỹ thuật xét nghiệm y học được đánh giá và công nhận đạt chuẩn kiểm định chất lượng, đều thuộc khối công lập gồm: Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng, Trường Đại học Y khoa Vinh, Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế.
1 chương trình Kỹ thuật hình ảnh y học được đánh giá và công nhận đạt chuẩn kiểm định chất lượng là chương trình của Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng.
1 chương trình Kỹ thuật Phục hồi chức năng được đánh giá và công nhận đạt chuẩn kiểm định chất lượng là chương trình của Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng.
Về đội ngũ giảng viên, theo Báo cáo thường niên năm 2024, ở lĩnh vực sức khỏe, Trường Đại học Tây Nguyên có 131 giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động, trong đó có 2 phó giáo sư, 6 tiến sĩ, 66 thạc sĩ, 57 cử nhân.
Theo Thông báo về việc công khai hoạt động giáo dục của Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng theo Thông tư 09/2024/TT-BGDĐT, lĩnh vực khoa học sức khỏe của trường có 205 giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động, trong đó có 1 phó giáo sư, 53 tiến sĩ và 152 thạc sĩ.
Theo Báo cáo thường niên năm 2024, Trường Đại học Y khoa Vinh có 256 giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động, gồm: 4 phó giáo sư, 63 tiến sĩ, 185 thạc sĩ, 4 cử nhân. Trong đó, ngành Kỹ thuật xét nghiệm y học có 18 giảng viên, gồm: 5 tiến sĩ, 13 thạc sĩ.
Theo Báo cáo thường niên năm 2024, Trường Y Dược - Đại học Đà Nẵng có 85 giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động, gồm: 1 phó giáo sư, 13 tiến sĩ, 46 thạc sĩ, 26 cử nhân.
Còn tại Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế, theo Báo cáo thường niên năm 2025, trường có 394 giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động, trong đó có 5 giáo sư, 43 phó giáo sư, 181 tiến sĩ/chuyên khoa II, 213 thạc sĩ/chuyên khoa I.
Theo Báo cáo thường niên năm 2024, Trường Đại học Phan Thiết có 9 giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động trong lĩnh vực sức khỏe, trong đó, có 3 tiến sĩ, 5 thạc sĩ, 1 cử nhân.
Trường Đại học Phan Châu Trinh không công khai cụ thể số lượng giảng viên trên website.
Theo Báo cáo thường niên năm 2024, Trường Đại học Đông Á có 427 giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động. Trong đó, lĩnh vực sức khỏe có 53 giảng viên, gồm 17 tiến sĩ, 30 thạc sĩ, 6 cử nhân.
Như vậy, ở nhóm trường công lập, nhiều cơ sở đào tạo có lực lượng giảng viên tương đối đông và cơ cấu học hàm, học vị khá đầy đủ. Chẳng hạn, ở lĩnh vực sức khỏe, Trường Đại học Tây Nguyên có 131 giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động, trong đó có 2 phó giáo sư, 6 tiến sĩ, 66 thạc sĩ, 57 cử nhân.
Trong khi đó, ở nhóm trường tư, có trường chỉ có số lượng giảng viên hạn chế trong lĩnh vực này, như Trường Đại học Phan Thiết với 9 giảng viên. Trường Đại học Đông Á có đội ngũ lớn hơn, song chưa có giảng viên là giáo sư, phó giáo sư.
Trong số cơ sở giáo dục đại học ở miền Trung đào tạo ngành nhóm ngành Kỹ thuật y học, có 4/8 cơ sở giáo dục đại học sở hữu bệnh viện trực thuộc.
Cụ thể, 3/5 trường đại học công lập có bệnh viện trực thuộc bao gồm: Trường Đại học Tây Nguyên có Bệnh viện Trường Đại học Tây Nguyên; Trường Đại học Y khoa Vinh có Bệnh viện Trường Đại học Y khoa Vinh; Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế có Bệnh viện Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế.
Ở khối trường tư thục, 1/3 cơ sở giáo dục có bệnh viện trực thuộc là: Trường Đại học Phan Châu Trinh có Bệnh viện Đại học Y khoa Phan Châu Trinh.
Như vậy, phần lớn các trường công lập đào tạo nhóm ngành Kỹ thuật y học đã hình thành hoặc phát triển bệnh viện trực thuộc phục vụ đào tạo và khám chữa bệnh. Trong khi đó, ở khối tư thục, số cơ sở có bệnh viện trực thuộc hạn chế hơn. Với các trường chưa có bệnh viện riêng, hoạt động thực hành, thực tập của sinh viên thường được tổ chức thông qua việc hợp tác với các bệnh viện và cơ sở y tế bên ngoài.
Khoản 2, Điều 10, Nghị định số 111/2017/NĐ-CP ngày 05/10/2017 của Chính phủ quy định về tổ chức đào tạo thực hành trong đào tạo khối ngành sức khỏe nêu rõ một trong những yêu cầu đối với cơ sở giáo dục là phải ký hợp đồng hoặc có 01 cơ sở thực hành là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện ít nhất 50% thời lượng của chương trình thực hành và đáp ứng các yêu cầu.
Trong đó, yêu cầu đối với cơ sở thực hành của cơ sở giáo dục đào tạo trình độ cao đẳng, trung cấp khối ngành sức khỏe là “bệnh viện hạng III hoặc bệnh viện được phép thực hiện kỹ thuật thuộc danh mục kỹ thuật từ tuyến III trở lên".