Kỳ tuyển sinh đại học năm 2026 sẽ chính thức áp dụng nhiều điều chỉnh quan trọng theo quy chế mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Những thay đổi này không chỉ tác động đến quá trình học tập, ôn luyện của học sinh trước thềm kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, mà còn đặt ra yêu cầu trong việc chọn ngành, chọn trường và sắp xếp nguyện vọng, đòi hỏi sự tính toán kỹ lưỡng dựa trên năng lực và định hướng nghề nghiệp dài hạn.
Học kỳ 2 là giai đoạn tăng tốc mang tính quyết định đối với học sinh cuối cấp. Các trường trung học phổ thông hiện đang chủ động xây dựng kế hoạch ôn luyện hệ thống, củng cố kiến thức nền tảng, rèn kỹ năng làm bài và tư vấn hướng nghiệp sớm, giúp các em xác định rõ mục tiêu học tập, lựa chọn tổ hợp và phương thức xét tuyển phù hợp. Sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, giáo viên và học sinh vì vậy trở thành yếu tố quan trọng, tạo tâm thế vững vàng cho thí sinh trước kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và mùa tuyển sinh đại học năm 2026.
Đảm bảo chất lượng đề kiểm tra không mang tính đánh đố học sinh
Theo quy chế tuyển sinh năm 2026 do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, có 6 điểm điều chỉnh đáng chú ý. Thí sinh chỉ được đăng ký tối đa 15 nguyện vọng, thay vì không giới hạn như trước. Với nhóm ngành Sư phạm, nguyện vọng phải sắp xếp từ 1 đến 5 theo thứ tự ưu tiên. Mỗi trường đại học được sử dụng tối đa 5 phương thức xét tuyển (không tính tuyển thẳng). Đặc biệt xét tuyển học bạ bắt buộc sử dụng kết quả của cả 6 học kỳ ở bậc trung học phổ thông; thí sinh phải đạt điểm tốt nghiệp từ 15/20 trở lên. Mức điểm cộng ưu tiên tối đa là 3/30 và được quy định rõ theo từng nhóm đối tượng. Với chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế, các trường phải có bảng quy đổi tối thiểu 5 mức điểm và nếu đã quy đổi sang điểm xét tuyển thì không được cộng thêm điểm khuyến khích.
Năm nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo không công bố đề minh họa kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông nhưng cấu trúc định dạng đề thi vẫn giữ ổn định như năm 2025, nội dung bám sát chương trình giáo dục phổ thông 2018. Chia sẻ về vấn đề này, cô Lê Thị Trang - Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Trưng Vương (tỉnh Vĩnh Long) cho biết, việc giữ ổn định cấu trúc và định hướng đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông như năm 2025 giúp học sinh yên tâm hơn. Sự nhất quán này góp phần để các em tránh tâm lý lo lắng vì phải thay đổi đột ngột, đồng thời tạo cơ sở để giáo viên xây dựng kế hoạch giảng dạy.
Thực tế cho thấy, đề thi năm 2025 đã thể hiện rõ tinh thần và yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Đây không chỉ là căn cứ quan trọng để giáo viên định hướng nội dung dạy học, mà còn là thước đo để học sinh tham chiếu, định hình chuẩn kiến thức, kỹ năng cần đạt ở từng môn học. Điều này giúp các em giảm bớt tâm lý chờ đợi đề minh họa để học tủ, thay vào đó tập trung củng cố kiến thức nền và rèn luyện năng lực làm bài một cách bài bản.
Ngay từ đầu năm học 2025-2026, nhà trường đã chủ động xây dựng kế hoạch giảng dạy và ôn thi tốt nghiệp trung học phổ thông theo hướng bám sát chuẩn đầu ra của chương trình, thay vì chạy theo khuôn mẫu đề thi. Hoạt động kiểm tra, đánh giá được thiết kế đồng bộ theo định hướng của kỳ thi, từ đó giúp học sinh tập trung vào mục tiêu cốt lõi của chương trình là phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực, chú trọng khả năng vận dụng vào thực tiễn.
Dựa vào cấu trúc và định dạng đề thi năm 2025, giáo viên xây dựng hệ thống đề kiểm tra, đánh giá xuyên suốt năm học, giúp học sinh từng bước làm quen. Với tỷ lệ 40% câu hỏi ở mức nhận biết, 30% thông hiểu và 30% vận dụng, áp lực đối với cả thầy và trò là không nhỏ. Song, các mức độ tư duy trong đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông góp phần bảo đảm yêu cầu phân hóa và đánh giá đúng năng lực học sinh. Chia sẻ về kinh nghiệm thực tiễn, theo cô Lê Thị Trang, với nhóm câu hỏi mức độ nhận biết và thông hiểu, giáo viên tập trung giúp học sinh nắm chắc khái niệm, bản chất, quy luật; ưu tiên làm rõ kiến thức cốt lõi thay vì yêu cầu ghi nhớ máy móc, lý giải vấn đề gắn với phân tích tình huống thực tiễn.
Đối với 30% câu hỏi vận dụng - phần nội dung thường khiến học sinh gặp khó khăn và dễ mất điểm, giáo viên cần thường xuyên liên hệ kiến thức với đời sống, sản xuất và các vấn đề xã hội. Các hoạt động dạy học phát triển năng lực như phân tích, liên hệ, giải quyết tình huống thực tế được tăng cường. Hệ thống câu hỏi, bài tập thiết kế phù hợp với từng môn học và từng nhóm đối tượng học sinh. Đặc biệt, sau mỗi bài giảng, giáo viên đều cố gắng xây dựng câu hỏi ở mức độ thông hiểu, vận dụng và ít nhất một tình huống gắn với thực tiễn địa phương hoặc đời sống của học sinh.
Bên cạnh việc bám sát văn bản chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo, nhà trường yêu cầu các tổ chuyên môn xây dựng đề theo ma trận 4:3:3. Các câu hỏi vận dụng được thiết kế với ngôn ngữ rõ ràng, bối cảnh quen thuộc, tránh yêu cầu mẹo lạ. Tỷ lệ câu hỏi vận dụng được nâng dần trong các bài kiểm tra 15 phút, giữa kỳ và cuối kỳ. Bởi lẽ, nếu trong suốt năm học, hoạt động kiểm tra chỉ dừng ở mức nhận biết và thông hiểu, học sinh sẽ gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận đề thi tốt nghiệp. Vì vậy, việc chủ động đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá và định hướng đúng cho giáo viên, học sinh là yêu cầu tất yếu, nhằm đáp ứng mục tiêu theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và bảo đảm sự chuẩn bị vững vàng cho kỳ thi sắp tới.
Triển khai ôn thi tốt nghiệp trung học phổ thông phù hợp với chương trình giáo dục mới
Việc điều chỉnh thời điểm tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm nay sớm hơn so với thông lệ khoảng hai tuần đã tác động trực tiếp đến tiến độ dạy học và ôn tập của cơ sở giáo dục. Trước tình hình đó, thầy Nguyễn Đức Hồng - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Trần Quang Khải (tỉnh Hưng Yên) cho hay, nhà trường đã chủ động rà soát, sắp xếp lại kế hoạch năm học theo hướng linh hoạt nhưng vẫn bảo đảm đúng quy định, phấn đấu hoàn thành chương trình lớp 12 trước ngày 31/5/2026. Việc về đích sớm này nhằm tạo thêm quỹ thời gian cho học sinh củng cố kiến thức một cách hệ thống, giảm áp lực trong giai đoạn cao điểm trước kỳ thi.
Song song với đó, nhà trường cũng yêu cầu các tổ, nhóm chuyên môn tổ chức họp đánh giá lại kế hoạch dạy học từng môn; trên cơ sở đó xây dựng phương án triển khai phù hợp với thực tế từng khối lớp. Các chuyên đề ôn tập được tăng cường theo hướng hệ thống hóa kiến thức trọng tâm, bám sát yêu cầu cần đạt của chương trình và định hướng thi.
Từ khung kế hoạch chung, giáo viên bộ môn chủ động đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy, chú trọng phân hóa theo năng lực học sinh ở từng lớp phụ trách. Việc điều chỉnh không chỉ dừng ở mặt thời gian, mà còn hướng tới nâng cao hiệu quả thực chất của quá trình dạy và học, bảo đảm học sinh có sự chuẩn bị vững vàng cả về kiến thức lẫn tâm thế trước những thay đổi của kỳ thi và phương thức tuyển sinh trong thời gian tới.
Nhất là năm nay, một số ngành có thể không còn sử dụng các tổ hợp truyền thống như A00 (Toán, Vật lí, Hóa học) hay C00 (Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí) - những tổ hợp xét tuyển vốn đã gắn bó với nhiều thế hệ học sinh hàng chục năm qua. Để xây dựng nền tảng kiến thức vững chắc, học sinh cần chủ động hệ thống hóa nội dung đã học theo từng chuyên đề, từng mạch kiến thức, thay vì ghi nhớ rời rạc từng đơn vị bài học. Việc khái quát lại các khái niệm, định lý, quy tắc cốt lõi, đồng thời tổng hợp những ví dụ, ứng dụng đã được trình bày trong sách giáo khoa, sách bài tập và tài liệu tham khảo giúp các em nhìn thấy mối liên hệ nội tại của vấn đề, từ đó hiểu sâu bản chất môn học thay vì chỉ dừng ở mức độ thao tác kỹ thuật làm bài.
Ngoài ra, trong quá trình ôn tập, thay vì làm dàn trải số lượng lớn bài tập, học sinh nên ưu tiên phương pháp tinh gọn nhưng hiệu quả, tức là chia nhỏ nội dung theo từng nhóm câu hỏi có cùng dạng hoặc cùng mức độ tư duy để rèn luyện chuyên sâu, bảo đảm nắm chắc kiến thức nền và đặc trưng từng dạng bài. Với những môn có hình thức trắc nghiệm, việc luyện tập cần bao quát và chú ý đến những kiểu câu hỏi mới như đúng/sai hoặc trả lời ngắn, nhằm thích ứng linh hoạt với cấu trúc đề thi và nâng cao hiệu quả làm bài.
Những đổi mới về quy chế tuyển sinh đại học không chỉ đặt ra thách thức đối với học sinh mà còn đòi hỏi đội ngũ giáo viên cần đầu tư nhiều thời gian, công sức hơn trong công tác chuyên môn. Theo thầy Nguyễn Văn Minh - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Mường Chiềng (tỉnh Phú Thọ), việc phân tích kỹ ma trận đề, đối chiếu chuẩn đầu ra của chương trình và xây dựng ngân hàng câu hỏi bám sát định hướng thi trở thành nhiệm vụ trọng tâm, bảo đảm sự thống nhất giữa dạy học và đánh giá.
Mặt khác, công tác tư vấn, định hướng cho học sinh cần được chú trọng tăng cường hơn, đặc biệt đối với học sinh cuối cấp tại các địa bàn còn nhiều khó khăn. Giáo viên cần giúp học sinh nắm chắc hệ thống kiến thức cơ sở, hiểu rõ khái niệm, bản chất quy luật, ghi nhớ và vận dụng chính xác các công thức cốt lõi. Đây chính là điểm tựa quan trọng để các em có thể giải quyết hiệu quả các câu hỏi ở mức độ vận dụng và vận dụng cao.
Quá trình giảng dạy cũng cần bổ sung những liên hệ thực tiễn, lồng ghép ví dụ từ đời sống, sản xuất và văn hóa địa phương vào từng bài học. Đối với học sinh miền núi, giáo viên không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn đóng vai trò như người chuyển ngữ để đơn giản hóa những tình huống phức tạp thành các ví dụ gần gũi, dễ hình dung nhưng vẫn bảo đảm tính chính xác, khoa học. Về mục tiêu cụ thể, nhà trường định hướng học sinh trung bình nắm chắc khoảng 70% số điểm ở nhóm câu hỏi nhận biết và thông hiểu; nhóm học sinh khá, giỏi tăng cường luyện tập các dạng vận dụng và vận dụng cao chiếm khoảng 30% cấu trúc đề nhằm tạo sự bứt phá về điểm số.
Về công tác xây dựng đề kiểm tra trong quá trình dạy và học, nhà trường cần bảo đảm đúng tỷ lệ các mức độ tư duy, không nới lỏng độ nâng cao ở các bài kiểm tra thường xuyên, nhưng cũng tránh dồn quá nhiều câu hỏi khó vào bài kiểm tra cuối kỳ gây áp lực tâm lý cho học sinh. Đề kiểm tra được thiết kế đồng bộ theo ba dạng thức gồm: trắc nghiệm nhiều lựa chọn, trắc nghiệm đúng/sai và trắc nghiệm trả lời ngắn. Đồng thời, nhà trường tăng cường các câu hỏi yêu cầu giải thích hiện tượng, xử lý tình huống thực tiễn, giảm bớt những câu hỏi thuần túy tính toán đơn thuần.
Cùng với đó, cơ sở giáo dục tổ chức ôn thi theo chuyên đề gắn với từng mức độ tư duy, phân lớp ôn tập phù hợp với năng lực học sinh ở từng môn học, luyện đề có chọn lọc thay vì dàn trải. Đặc biệt, giáo viên chú trọng rèn kỹ năng làm bài cho học sinh như phân bổ thời gian hợp lý, nhận diện nhanh mức độ câu hỏi để không bỏ lỡ điểm ở những câu dễ.
