Dự thảo Nghị định quy định phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 5 đến 6 tuổi, giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ, quy định giáo dục bắt buộc đối với bậc tiểu học (6 tuổi đến 14 tuổi) và bậc trung học cơ sở (11 tuổi đến 18 tuổi).
Trong đó, đối với xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, để đạt tiêu chuẩn công nhận giáo dục tiểu học bắt buộc mức độ hoàn thành thì tỷ lệ trẻ em 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học đạt ít nhất 80%, và ít nhất 90% tỷ lệ thanh niên, thiếu niên trong độ tuổi từ 15 đến 18 hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở.
Ở mức độ nâng cao, xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn tỷ lệ trẻ em 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học đạt ít nhất 97%, và tỷ lệ thiếu niên 15 tuổi hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở đạt ít nhất 97%.
Nhiều gia đình hoàn cảnh éo le, giáo viên nỗ lực nhưng cũng khó đảm bảo đến lớp đầy đủ
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, cô Nguyễn Thị Tiến Giang - Phó Hiệu trưởng Trường phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học & Trung học cơ sở Bum Tở (xã Bum Tở, tỉnh Lai Châu) cho hay, ở địa phương có dân tộc La Hủ, Thái, Hà Nhì, Mông... trong đó con em dân tộc La Hủ không chịu khó học, mặc dù các em được hưởng các chính sách như ăn ở miễn phí, hỗ trợ chi phí học tập...
"Có những trường hợp cả gia đình đều nghiện ma túy, không quan tâm đến con em nên các em chán học, bỏ trốn ra bờ suối bờ mương, khiến các cô giáo phải đi tìm. Hoặc đến chiều Chủ Nhật khi các em ở nhà phải chuẩn bị trở lại trường thì giáo viên phải lên bản để vận động, nhưng hôm sau ở trường, có khi học sinh lại trốn đi chơi.
Nhiều gia đình hoàn cảnh khó khăn, bên trong căn nhà của một số gia đình không có gì giá trị ngoài ba hòn đá đun bếp...", cô Giang chia sẻ.
Phó Hiệu trưởng Trường phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học & Trung học cơ sở Bum Tở cho rằng, đối với trường hợp không chịu đến trường, giáo viên nhà trường sẽ đến bản để làm việc cùng với Trưởng bản và phụ huynh, cùng với đó là biên bản cam kết nếu gia đình không cho con em đến trường thì gia đình sẽ bị trừ tiền hỗ trợ từ công tác bảo vệ rừng, nhưng sự hiệu quả vẫn thấp.
Cô Giang nhận định, tại các thôn bản thì Trưởng bản là người rất quan trọng trong việc nhắc nhở con em của người dân địa phương đến trường. Tuy nhiên, Trưởng bản phải là người có uy, nếu không người dân không nghe.
"Trưởng bản ở địa phương là người trẻ tuổi, biết sử dụng công nghệ, có người còn tốt nghiệp đại học. Tuy nhiên, số lượng Trưởng bản có tiếng nói với người dân địa phương là rất ít.
Theo tôi, Trưởng bản cần phải gương mẫu trong các hoạt động, gương mẫu tại gia đình từ đó mới có tiếng nói với người dân", cô Giang cho biết.
Theo cô Giang, để các em yêu trường, lớp, nhà trường tổ chức các hoạt động ngoại khóa như bóng đá, trồng rau...Những ngày này thời tiết nắng nóng lên, tỷ lệ học sinh tiểu học đến trường đạt khoảng 90%, còn đối với học sinh bậc trung học cơ sở là thấp hơn.
"Khuôn viên nhà trường rộng, có tường bao nhưng học sinh vẫn trèo để trốn ra ngoài. Nhà trường cũng dự tính phương án làm hàng rào thép gai nhưng chi phí khá lớn", cô Giang giãi bày.
Với nội dung dự thảo quy định giáo dục bắt buộc bậc tiểu học và trung học cơ sở, cô Giang nhận định, sẽ khó khả thi với trường ở vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế - xã hội. Để địa phương có tỷ lệ cao học sinh hoàn thành chương trình bậc học, cô Giang cho rằng, Trưởng bản cần phải có quy ước với phụ huynh và phải xử lý triệt để tệ nạn xã hội. Đồng thời, cần có sự xét thi đua giữa các bản với nhau và thậm chí mời các già làng là người có tiếng nói tham gia hoạt động này.
Đối với học sinh nhà trường sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở, có khoảng 10% là vào trường trung học phổ thông, tỷ lệ còn lại sẽ đi làm công nhân tại các công ty nhưng nhiều em không chịu được vất vả, bỏ việc về quê.
Chia sẻ quan điểm về nội dung dự thảo, thầy Nguyễn Duy Long - Phó Hiệu trưởng Trường phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Ka Lăng (Thu Lũm, Lai Châu) cho hay, ông cũng đã nghiên cứu nội dung của dự thảo và nhận thấy rằng, nếu áp dụng giáo dục bắt buộc đến bậc trung học cơ sở với học sinh ở vùng đặc biệt khó khăn sẽ khó phù hợp. Bởi vì, như nhà trường vận động học sinh đến trường đạt khoảng 98% nhưng khi các em học bậc trung học cơ sở, đòi hỏi nhà trường phải có sự quan tâm sát sao hơn với các em.
"Tôi góp ý với dự thảo là ở từng địa bàn sẽ có những khó khăn khác nhau, nên việc giáo dục bắt buộc cần phù hợp với nhà trường ở các địa phương", thầy Long chia sẻ.
Phó hiệu trưởng nhà trường cho hay, đơn vị có khoảng 90% là con em dân tộc Hà Nhì, 10% còn lại thì trong đó có học sinh là dân tộc La Hủ. Nhiều học sinh La Hủ đang học bị ngất đi nhưng khám chưa chẩn đoán được kết quả bệnh, điều này cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ chuyên cần của lớp.
"Các em học sinh dân tộc La Hủ tư duy thông minh nhưng hay theo cha mẹ đi làm rừng, nên tỷ lệ chuyên cần thấp. Có trường hợp học được một, hai năm xong các em lại nghỉ học, điều này ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh.
Giáo viên có sự cam kết duy trì tỷ lệ chuyên cần với Ban giám hiệu nhà trường. Vào chiều Chủ Nhật hằng tuần khi các em chuẩn bị trở lại trường, thì thầy cô vào bản và phối hợp với Trưởng bản để vận động học sinh. Đội ngũ Trưởng bản của địa phương là người trẻ tuổi và am hiểu công nghệ. Điều này cũng hỗ trợ thầy cô rất nhiều", thầy Long cho hay.
Vận động học sinh đến trường không dễ dàng
Thầy Lò Văn Hướng - Phó Hiệu trưởng Trường phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Tà Tổng (Lai Châu) cho biết, xã Tà Tổng có địa bàn rộng, đi lại khó khăn nên việc vận động học sinh đến trường cũng không dễ dàng.
"Giáo viên chủ nhiệm lập nhóm Zalo của lớp nhưng một số điểm bản không có internet, không liên lạc được với phụ huynh hoặc có trường hợp không dùng Zalo, vì vậy việc vận động học sinh đến trường còn gặp nhiều khó khăn.
Trường hợp giáo viên đến nhà vận động học sinh đến trường thì phụ huynh lại đi làm ăn xa, lên rẫy. Hoặc có trường hợp do bố mẹ bận không đưa được đến trường thì giáo viên phải chở đến trường", thầy Hướng cho biết.
Thầy Hướng cho biết, đối với nội dung dự thảo, việc giáo dục bắt buộc đối với bậc tiểu học, trung học cơ sở có thể khó với xã đặc biệt khó khăn về kinh tế - xã hội.
Thầy Lê Cù Toàn - Phó Hiệu trưởng Trường phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học - Trung học cơ sở Hồng Thái (xã Hồng Thái, Tuyên Quang) cho hay, với nội dung mới của dự thảo, sẽ đòi hỏi trách nhiệm cao hơn giữa gia đình, nhà trường và chính quyền để tỷ lệ học sinh đến lớp được duy trì, bền vững.
Bên cạnh đó, sự điều chỉnh bổ sung trong dự thảo sẽ góp phần giảm tỷ lệ bỏ học; nâng cao mặt bằng dân trí; tăng khả năng tiếp tục học lên trung học phổ thông hoặc tham gia giáo dục nghề nghiệp; góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
"Dự thảo còn tăng cường bảo đảm quyền học tập bình đẳng cho trẻ em gái và trẻ em thuộc nhóm yếu thế; góp phần thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các vùng", thầy Toàn nhận định.
Theo thầy Toàn, chính quyền địa phương và nhà trường luôn tạo điều kiện để học sinh đến trường. Tuy nhiên, cũng có một số gia đình không muốn con em theo học, điều này sẽ ảnh hưởng đến tương lai học sinh.
Đơn cử như năm học trước, có trường hợp học sinh của nhà trường bỏ học theo bố mẹ đi làm ăn xa và học sinh này không rút hồ sơ học bạ. Nhà trường cùng chính quyền địa phương cũng hỏi thăm và được biết, gia đình em vào miền Nam sinh sống...
Chia sẻ thêm về điều kiện học tập của học sinh nhà trường, thầy Toàn cho hay, hiện tại nhà trường có 182 học sinh bậc tiểu học và 178 em học bậc trung học cơ sở. Trong đó có 131 học sinh đủ điều kiện để ăn ở bán trú tại trường từ thứ Hai đến thứ Sáu. Khi các em đến trường được hưởng rất nhiều chính sách như hỗ trợ chi phí học tập, ăn ở...
"Phụ huynh đều rất vui mừng khi nhận được sự quan tâm từ nhà nước, sự chăm nom từ phía nhà trường", thầy Toàn chia sẻ.