Trường đại học góp ý về dự thảo khai thác, sử dụng tài nguyên giáo dục mở trong GDĐH

14/05/2026 09:52
Yên Đan
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Sử dụng tài nguyên giáo dục mở là xu hướng phù hợp với giáo dục đại học hiện đại, góp phần hỗ trợ người học tiếp thu kiến thức mới ở mọi lúc, mọi nơi. 

Tại Khoản 2, Điều 11 Dự thảo Thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về khai thác, sử dụng tài nguyên giáo dục mở trong hoạt động giáo dục đại học nêu rõ: “Khuyến khích sử dụng tài nguyên giáo dục mở làm học liệu chính thức, học liệu tham khảo hoặc học liệu bổ trợ trong chương trình, ngành đào tạo cấp văn bằng ở các trình độ đào tạo”.

Trong bối cảnh chuyển đổi số phát triển mạnh mẽ, nhiều cơ sở giáo dục đại học đã chủ động xây dựng hệ thống học liệu số và tài nguyên giáo dục mở nhằm mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức cho người học. Trong đó, Trường Đại học Mở Hà Nội và Đại học Thái Nguyên là những đơn vị điển hình trong triển khai xây dựng, khai thác và chia sẻ tài nguyên giáo dục mở phục vụ hoạt động đào tạo.

Tài nguyên giáo dục mở giúp người học tiếp cận tri thức linh hoạt

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Đỗ Ngọc Anh - Giám đốc Trung tâm Truyền thông và Tuyển sinh, Trường Đại học Mở Hà Nội cho biết, trong nhiều năm qua, nhà trường chú trọng xây dựng hệ sinh thái học liệu số và tài nguyên giáo dục mở phục vụ đào tạo trực tiếp kết hợp trực tuyến và đào tạo từ xa.

659082887-1383032180519977-8426549986581069676-n.jpg
Thạc sĩ Đỗ Ngọc Anh - Giám đốc Trung tâm Truyền thông và Tuyển sinh, Trường Đại học Mở Hà Nội.
Ảnh: website nhà trường

Hiện nay, nhà trường đã số hóa nhiều nhóm học liệu quan trọng như bài giảng điện tử, video bài giảng, ngân hàng câu hỏi đánh giá, giáo trình điện tử, học liệu đa phương tiện, tài liệu tham khảo học thuật và học liệu hỗ trợ tự học cho sinh viên. Đặc biệt, các ngành có quy mô đào tạo lớn hoặc tính ứng dụng cao như Công nghệ thông tin, Ngôn ngữ Anh, Ngôn ngữ Trung Quốc, Quản trị kinh doanh, Luật, Du lịch, Thương mại điện tử… được ưu tiên phát triển học liệu số dùng chung, giúp người học tiếp cận kiến thức linh hoạt hơn.

Ngoài ra, nhà trường từng bước chuẩn hóa việc lưu trữ, chia sẻ và khai thác học liệu thông qua hệ thống LMS, thư viện số và các nền tảng học tập trực tuyến, hướng tới xây dựng kho tài nguyên giáo dục mở có khả năng kết nối, chia sẻ và tái sử dụng trong toàn trường cũng như phục vụ cộng đồng.

Theo thầy Ngọc Anh, tài nguyên giáo dục mở mang lại nhiều lợi ích cho cả người dạy, người học và nhà trường. Đối với sinh viên, đặc biệt là người học từ xa hoặc ở nhiều địa phương khác nhau, tài nguyên giáo dục mở giúp tiếp cận tri thức linh hoạt, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Người học có thể chủ động học tập, học lại, tự nghiên cứu và cá nhân hóa quá trình học của mình. Đối với giảng viên, tài nguyên giáo dục mở góp phần tăng khả năng chia sẻ học thuật, cập nhật kiến thức mới và thúc đẩy đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng số hóa, tăng tính tương tác và học tập tích cực.

Ở góc độ quản trị đại học, việc phát triển tài nguyên giáo dục mở giúp chuẩn hóa chất lượng học liệu, mở rộng cơ hội học tập cho cộng đồng, giảm chi phí tiếp cận tri thức và thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục đại học. Đây cũng là hướng đi phù hợp với triết lý “mở cơ hội học tập cho mọi người” mà nhà trường theo đuổi.

“Tuy nhiên, quá trình xây dựng tài nguyên giáo dục mở cần sự đầu tư dài hạn và đồng bộ. Việc xây dựng hệ thống học liệu số có khả năng lưu trữ lớn, truy cập ổn định và bảo đảm an toàn dữ liệu đòi hỏi nguồn lực đáng kể.

Bên cạnh đó, nhân lực cũng là một thách thức lớn. Việc sản xuất bài giảng điện tử, video học tập hay học liệu tương tác cần sự phối hợp giữa chuyên gia chuyên môn, kỹ thuật công nghệ và thiết kế truyền thông giáo dục.

Tại nhà trường, đội ngũ giảng viên và kỹ thuật tham gia xây dựng học liệu điện tử đều được bồi dưỡng bài bản, trong đó nhiều cá nhân đã được tập huấn bởi các chuyên gia Hàn Quốc”, thầy Ngọc Anh bày tỏ.

Cùng bàn vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Khắc Tuân - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kỹ thuật - Công nghiệp (Đại học Thái Nguyên) cho biết, hiện nay nhà trường đã từng bước xây dựng và khai thác hệ thống tài nguyên giáo dục mở trên nền tảng hệ thống quản lý học tập (LMS - https://lms.tnut.edu.vn), thư viện số (https://thuvienso.tnut.edu.vn) và hệ thống dùng chung khác. Các học liệu đang được ưu tiên số hóa và chia sẻ bao gồm: bài giảng điện tử; giáo trình, tài liệu tham khảo số; ngân hàng câu hỏi, đề thi mẫu; video bài giảng và video thí nghiệm mô phỏng; học liệu thực hành các môn kỹ thuật cốt lõi; đồ án, khóa luận tốt nghiệp có giá trị tham khảo.

486631461-1473289943878525-6573101847644684617-n.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Khắc Tuân (đứng bên phải) - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kỹ thuật - Công nghiệp (Đại học Thái Nguyên). Ảnh: website nhà trường

Tuy nhiên, theo thầy Tuân, số lượng học liệu được số hóa hiện nay vẫn chưa đáp ứng nhu cầu thực tế của hoạt động đào tạo và chuyển đổi số giáo dục. Ngoài nguồn học liệu nội bộ, nhà trường còn khai thác cơ sở dữ liệu số của Trung tâm số (Đại học Thái Nguyên) thông qua hệ thống dùng chung toàn đại học. Hệ thống này đang cung cấp hơn 50.000 tài liệu thuộc nhiều lĩnh vực như kỹ thuật, công nghệ, kinh tế, khoa học xã hội và các ngành liên quan.

Đến nay, nhà trường đã xây dựng hơn 200 bài giảng điện tử phục vụ các chương trình đào tạo từ xa, đồng thời từng bước áp dụng vào đào tạo chính quy nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học. Trong thời gian tới, nhà trường định hướng khai thác học liệu số không chỉ là tài liệu tham khảo mà còn từng bước sử dụng như học liệu bổ trợ và học liệu phục vụ đào tạo chính thức theo tinh thần của Dự thảo Thông tư quy định về khai thác, sử dụng tài nguyên giáo dục mở trong hoạt động giáo dục đại học.

“Trên thực tế, trong quá trình xây dựng và vận hành kho tài nguyên giáo dục mở, nhà trường gặp nhiều khó khăn. Trước hết, hệ thống lưu trữ, máy chủ và băng thông Internet chưa đáp ứng tốt nhu cầu truy cập đồng thời đối với các học liệu đa phương tiện dung lượng lớn. Ngoài ra, nhà trường chưa có đội ngũ chuyên trách về số hóa, biên tập, quản trị và kiểm định học liệu số. Bên cạnh đó, vấn đề bản quyền và pháp lý cũng là rào cản khi một số giảng viên còn e ngại chia sẻ học liệu do lo ngại về sở hữu trí tuệ, nguy cơ bị sử dụng trái phép hoặc chưa hiểu đầy đủ về giấy phép mở.

Nhà trường hiện đã có chính sách hỗ trợ kinh phí thông qua các đề tài, nhiệm vụ chuyên môn và tính khối lượng công việc đối với hoạt động xây dựng học liệu số, đặc biệt là video bài giảng. Tuy nhiên, cơ chế ghi nhận, quy đổi giờ chuẩn, hỗ trợ kinh phí và đánh giá thi đua đối với hoạt động xây dựng, chia sẻ tài nguyên giáo dục mở vẫn chưa đồng bộ và cần tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới”, thầy Tuân bày tỏ.

Cần đảm bảo một số điều kiện để tài nguyên giáo dục mở được sử dụng hiệu quả

Theo thầy Ngọc Anh, để tài nguyên giáo dục mở có thể được sử dụng hiệu quả như học liệu chính thức hoặc học liệu bổ trợ trong đào tạo đại học cần bảo đảm một số điều kiện quan trọng.

Trước hết, học liệu phải bảo đảm chất lượng học thuật, có tính chính xác, được cập nhật thường xuyên và phù hợp với chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.

Bên cạnh đó, tài nguyên cần được chuẩn hóa về định dạng số, dễ truy cập, có khả năng tích hợp với hệ thống LMS và thuận lợi cho người học sử dụng trên nhiều thiết bị khác nhau. Đồng thời, các trường cần có cơ chế kiểm định, rà soát và cập nhật định kỳ để bảo đảm chất lượng sử dụng lâu dài.

Ngoài ra, kỹ năng số của giảng viên và sinh viên cũng là yếu tố rất quan trọng. Tài nguyên giáo dục mở chỉ phát huy hiệu quả khi người dạy và người học có đủ năng lực khai thác, sử dụng và tương tác với môi trường học tập số. Do đó, các cơ sở giáo dục đại học cần xây dựng văn hóa chia sẻ tri thức, cùng phát triển hệ sinh thái tri thức mở để phát huy đúng tinh thần cốt lõi của tài nguyên giáo dục mở là “mở để cùng phát triển”.

unnamed-1.jpg
Ảnh minh họa: website Trường Đại học Mở Hà Nội

Đánh giá về dự thảo, thầy Ngọc Anh cho rằng đây là định hướng tích cực và phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục đại học hiện nay, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi số và học tập suốt đời trở thành yêu cầu tất yếu. Theo thầy, việc khuyến khích sử dụng tài nguyên giáo dục mở không chỉ giúp mở rộng khả năng tiếp cận tri thức mà còn thúc đẩy các trường đại học đổi mới mô hình đào tạo theo hướng linh hoạt, cá thể hóa và lấy người học làm trung tâm.

Tuy nhiên, quy định này cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với các cơ sở giáo dục đại học. Các trường sẽ phải đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng số, chuẩn hóa học liệu, nâng cao năng lực số cho giảng viên, hoàn thiện cơ chế quản trị học liệu số và xây dựng quy trình bảo đảm chất lượng đối với tài nguyên giáo dục mở. Do vậy, các trường đại học cũng cần thay đổi tư duy từ “sở hữu học liệu” sang “chia sẻ và cùng phát triển học liệu”, qua đó hình thành hệ sinh thái tri thức mở trong giáo dục đại học.

Để tránh tình trạng mỗi trường phát triển riêng lẻ, thiếu liên thông và gây lãng phí nguồn lực, thầy Ngọc Anh cho rằng cần xây dựng cơ chế phối hợp, chia sẻ học liệu ở quy mô liên trường, thậm chí ở cấp quốc gia.

“Trong đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đóng vai trò định hướng thông qua việc xây dựng bộ tiêu chuẩn chung về tài nguyên giáo dục mở, chuẩn dữ liệu, chuẩn chia sẻ học liệu và cơ chế kết nối giữa các nền tảng. Các trường đại học cũng cần tăng cường liên kết xây dựng học liệu dùng chung theo nhóm ngành, chia sẻ các tài nguyên chất lượng cao thay vì phát triển trùng lặp, đặc biệt với các học phần đại cương hoặc nội dung kỹ năng nền tảng.

Bên cạnh đó, cần có cơ chế ghi nhận đóng góp học thuật, bảo vệ quyền tác giả và khuyến khích hợp tác giữa các cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp công nghệ và tổ chức nghiên cứu nhằm hình thành hệ sinh thái tài nguyên giáo dục mở bền vững, hiệu quả và có khả năng lan tỏa rộng trong toàn hệ thống giáo dục đại học Việt Nam”, thầy Ngọc Anh bày tỏ.

Đồng quan điểm trên, thầy Tuân nhận định, để tài nguyên giáo dục mở được sử dụng hiệu quả trong chương trình đào tạo cần bảo đảm một số điều kiện quan trọng.

Thứ nhất, học liệu phải bảo đảm chất lượng học thuật, được thẩm định, cập nhật thường xuyên và phù hợp với chuẩn đầu ra của học phần, chương trình đào tạo.

Thứ hai, vấn đề bản quyền và giấy phép sử dụng cần được quy định rõ ràng. Học liệu nên áp dụng các giấy phép mở như Creative Commons để xác định cụ thể quyền khai thác, sử dụng và chia sẻ.

Thứ ba, học liệu cần có chuẩn dữ liệu, khả năng tích hợp với hệ thống LMS và thuận lợi cho việc tìm kiếm, truy xuất. Đồng thời, học liệu cũng phải phù hợp về mặt sư phạm, có cấu trúc rõ ràng, hỗ trợ hoạt động tự học, kiểm tra đánh giá và tăng tương tác giữa người dạy với người học.

Thứ tư, cần có quy trình kiểm định và cập nhật định kỳ nhằm bảo đảm chất lượng lâu dài của học liệu mở.

Theo thầy Tuân, việc khuyến khích trường đại học sử dụng tài nguyên giáo dục mở làm học liệu chính thức, học liệu tham khảo hoặc học liệu bổ trợ sẽ giúp người học tiếp cận tri thức thuận lợi hơn, đồng thời thúc đẩy văn hóa chia sẻ kiến thức.

Tuy nhiên, quy định mới cũng đặt ra nhiều yêu cầu đối với các cơ sở giáo dục đại học. Trong đó, các trường cần xây dựng chính sách nội bộ về quản lý, khai thác và chia sẻ học liệu mở; đầu tư hạ tầng số và hệ thống lưu trữ học liệu; nâng cao năng lực số cho giảng viên và sinh viên; rà soát, điều chỉnh chương trình đào tạo để tích hợp học liệu mở một cách hệ thống; đồng thời xây dựng cơ chế kiểm định chất lượng và bảo đảm tuân thủ các quy định về sở hữu trí tuệ, an toàn thông tin.

“Theo tôi, dự thảo đang từng bước tạo hành lang pháp lý để tài nguyên giáo dục mở trở thành một thành phần chính thức trong hoạt động đào tạo đại học, thay vì chỉ đóng vai trò tài liệu tham khảo như trước đây.

Đây cũng là xu hướng phù hợp với giáo dục đại học hiện đại, nơi tri thức cần được chia sẻ rộng mở, cập nhật liên tục và hỗ trợ người học học tập mọi lúc, mọi nơi”, thầy Tuân bày tỏ.

Yên Đan