Trường ĐH hiến kế để Qũy học bổng quốc gia triển khai hiệu quả và công bằng giữa các cơ sở giáo dục

23/05/2026 06:22
Đình Nam
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đại học, Quỹ học bổng Quốc gia cần đi kèm cơ chế hỗ trợ nâng cao năng lực tiếp nhận người học quốc tế cho các trường, cũng như phân bổ theo từng tiêu chí linh hoạt.

Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố dự thảo Nghị định ban hành Quy chế tổ chức, quản lý và sử dụng Quỹ học bổng Quốc gia để lấy ý kiến cho thấy định hướng xây dựng một cơ chế đầu tư bài bản, dài hạn cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước.

Theo dự thảo, Quỹ được định hướng triển khai nhiều chương trình học bổng khác nhau, gắn với năng lực, thành tích và nhu cầu đào tạo nhân tài. Trong bối cảnh cạnh tranh nguồn nhân lực ngày càng gay gắt, Quỹ học bổng Quốc gia được kỳ vọng không chỉ tạo cơ hội hỗ trợ người học có năng lực nổi bật, học sinh, sinh viên tài năng hay các lĩnh vực trọng điểm, mà còn trở thành công cụ chiến lược để phát hiện, bồi dưỡng và giữ chân nhân tài, góp phần xây dựng hệ sinh thái giáo dục – đào tạo có tính cạnh tranh và phát triển bền vững cho quốc gia.

Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đại học, Quỹ học bổng Quốc gia cần đi kèm cơ chế hỗ trợ nâng cao năng lực tiếp nhận người học quốc tế cho các trường, cũng như phân bổ theo từng tiêu chí linh hoạt.

Mức hỗ trợ cần linh hoạt theo nhu cầu thực tế

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đậu Bá Thìn - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức khẳng định, nhiều cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam, đặc biệt là các trường địa phương, đang từng bước thúc đẩy quốc tế hóa giáo dục nhưng vẫn gặp không ít khó khăn trong việc tiếp nhận và hỗ trợ sinh viên quốc tế.

Một trong những hạn chế lớn hiện nay là hạ tầng nghiên cứu và môi trường học thuật quốc tế chưa thật sự đồng bộ. Một số trường còn thiếu phòng thí nghiệm hiện đại, trung tâm nghiên cứu chuyên sâu hoặc các chương trình đào tạo hoàn toàn bằng tiếng Anh để đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu của người học nước ngoài.

Bên cạnh đó, điều kiện ký túc xá, dịch vụ hỗ trợ sinh viên quốc tế và hệ sinh thái học tập quốc tế tại nhiều cơ sở đào tạo vẫn còn hạn chế. Các dịch vụ như tư vấn pháp lý, hỗ trợ thủ tục cư trú, tư vấn tâm lý, giao lưu văn hóa hay cố vấn học tập bằng ngoại ngữ chưa được phát triển đầy đủ.

482248568-674389698588332-5689479253405884865-n.jpg
Sinh viên quốc tế theo học tại Trường Đại học Hồng Đức. Ảnh: website nhà trường

“Nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình quốc tế hóa giáo dục cũng còn thiếu cả về số lượng lẫn kỹ năng chuyên môn, đặc biệt là đội ngũ cán bộ có khả năng làm việc bằng ngoại ngữ và triển khai các chương trình hợp tác quốc tế chuyên sâu.

Do đó, việc có Quỹ học bổng Quốc gia sẽ tạo thêm động lực để các cơ sở giáo dục từng bước nâng cao năng lực tiếp nhận người học quốc tế, đầu tư cải thiện môi trường học tập, nghiên cứu và thúc đẩy quá trình quốc tế hóa giáo dục đại học tại Việt Nam trong thời gian tới”, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức nhấn mạnh.

Đồng quan điểm, Thạc sĩ Lê Vũ - Giám đốc Trung tâm Học liệu và Truyền thông, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng) cho rằng, việc dự thảo quy định xét chọn người nước ngoài phải gắn với năng lực tiếp nhận thực tế của cơ sở giáo dục là hướng đi đúng đắn và phù hợp với điều kiện hiện nay.

Khoản 6, Điều 16 dự thảo Nghị định Ban hành Quy chế tổ chức, quản lý và sử dụng Quỹ học bổng Quốc gia quy định việc xét chọn người học nước ngoài phải bảo đảm các yêu cầu:

Phù hợp với chiến lược quốc tế hóa giáo dục, định hướng hợp tác quốc tế và yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu của Việt Nam;

Gắn với năng lực đào tạo, nghiên cứu và điều kiện tiếp nhận của cơ sở giáo dục;

Bảo đảm chất lượng học thuật, uy tín, hiệu quả của chương trình học bổng và phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan.

Theo thầy Vũ, trước những hạn chế trong việc thu hút sinh viên quốc tế của các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam như hạ tầng nghiên cứu, năng lực giảng dạy bằng tiếng Anh, học phí, trải nghiệm sinh hoạt,... Quỹ học bổng Quốc gia cần đi kèm cơ chế hỗ trợ nâng cao năng lực tiếp nhận cho các trường, như đầu tư chương trình quốc tế, nâng cao năng lực ngoại ngữ cho giảng viên, phát triển ký túc xá quốc tế hoặc hình thành các “International Student Hub” tại các đại học trọng điểm.

“Nếu chỉ cấp học bổng mà không đồng thời nâng cao năng lực tiếp nhận thì rất khó tạo ra sức hút bền vững đối với sinh viên quốc tế”, Giám đốc Trung tâm Học liệu và Truyền thông, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng) bày tỏ.

Thạc sĩ Lê Vũ cũng cho rằng, dự thảo đã quy định khá hợp lý khi học bổng bao gồm học phí, chi phí sinh hoạt, bảo hiểm, thị thực và các chi phí cần thiết khác. Dù vậy, mức hỗ trợ nên được thiết kế theo hướng “linh hoạt theo nhu cầu thực tế” chứ không nên cào bằng.

thay-le-vu.jpg
Thạc sĩ Lê Vũ - Giám đốc Trung tâm Học liệu và Truyền thông, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng). Ảnh: NVCC

Giám đốc Trung tâm Học liệu và Truyền thông, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng) nhận định: “Trên thực tế, chi phí học tập và sinh hoạt giữa các quốc gia, vùng miền và lĩnh vực đào tạo chênh lệch rất lớn. Ví dụ, đào tạo tiến sĩ ngành bán dẫn hay Trí tuệ nhân tạo (AI) tại Mỹ, Nhật Bản hoặc châu Âu có mức chi phí khác rất xa so với một số ngành khoa học xã hội. Vì vậy, cần thiết kế học bổng theo nhóm ngành và nhóm quốc gia thay vì áp dụng một mặt bằng chung.

Theo tôi, nên chuyển từ tư duy “hỗ trợ tối thiểu” sang “đầu tư đủ để cạnh tranh”. Nếu mức học bổng quá thấp thì rất khó thu hút nhân tài thực sự giỏi, đặc biệt trong bối cảnh nhiều quốc gia đang tăng mạnh chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao.

Ngoài ra, nên có thêm các khoản hỗ trợ học thuật như: hỗ trợ công bố quốc tế; hỗ trợ tham dự hội thảo quốc tế; hỗ trợ nghiên cứu ngắn hạn; hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; hỗ trợ học liệu số và hạ tầng số.

Đối với sinh viên quốc tế học tại Việt Nam, nên cân nhắc cơ chế “học bổng toàn phần chiến lược” cho một số lĩnh vực ưu tiên hoặc nhóm đối tác chiến lược nhằm nâng cao vị thế giáo dục Việt Nam trong khu vực”.

Cần cơ chế phân bổ quỹ hài hòa giữa “cạnh tranh” và “cân bằng phát triển”

Để Quỹ học bổng Quốc gia được triển khai hiệu quả và bảo đảm công bằng giữa các cơ sở giáo dục, theo Thạc sĩ Đặng Hải Đăng - Trưởng phòng, Phòng Công tác sinh viên, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long, cần xây dựng cơ chế phân bổ dựa trên nhiều tiêu chí tổng hợp thay vì chỉ căn cứ vào quy mô đào tạo hay số lượng người học.

Theo đó, việc phân bổ nguồn lực cần tính đến đặc thù ngành nghề đào tạo, nhu cầu nhân lực của quốc gia, điều kiện phát triển vùng miền cũng như năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo của từng cơ sở giáo dục.

Đồng thời, tỷ lệ sinh viên thuộc nhóm ưu tiên, hoàn cảnh khó khăn cũng cần được xem là một tiêu chí quan trọng nhằm bảo đảm cơ hội tiếp cận học bổng cho người học ở nhiều khu vực khác nhau.

Nếu chỉ phân bổ theo số lượng sinh viên hoặc quy mô trường học sẽ dễ dẫn đến sự chênh lệch giữa các cơ sở đào tạo lớn và nhỏ, giữa khu vực trung tâm với địa phương.

Bên cạnh đó, cần có cơ chế riêng cho những ngành có chi phí đào tạo cao như kỹ thuật, công nghệ hay khoa học cơ bản, bởi đây đều là những lĩnh vực đòi hỏi đầu tư lớn về trang thiết bị, phòng thí nghiệm và thực hành. Nếu mức hỗ trợ được áp dụng đồng đều giữa các ngành sẽ khó phản ánh đúng đặc thù thực tế.

Ngoài cơ chế phân bổ cơ bản, Thạc sĩ Đặng Hải Đăng cũng đề xuất dành một phần quỹ theo hướng cạnh tranh mở để các cơ sở giáo dục có đề án đào tạo hoặc nghiên cứu trọng điểm tham gia xét chọn minh bạch.

thay-dang.jpg
Thạc sĩ Đặng Hải Đăng - Trưởng phòng, Phòng Công tác sinh viên, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long. Ảnh: NVCC

Về cơ chế bồi hoàn, theo Trưởng phòng, Phòng Công tác sinh viên, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long, cơ chế này cần được thiết kế theo hướng vừa bảo đảm tính ràng buộc, nâng cao trách nhiệm của người học, vừa thể hiện tính nhân văn và phù hợp với thực tế phát sinh trong quá trình học tập, nghiên cứu.

Thạc sĩ Đặng Hải Đăng nhấn mạnh cần phân loại rõ giữa các trường hợp vi phạm mang tính chủ quan với những trường hợp bất khả kháng như vấn đề sức khỏe, hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc các biến động khách quan ngoài khả năng kiểm soát của người học.

Đối với những trường hợp cố tình không thực hiện cam kết, cần áp dụng cơ chế bồi hoàn tương xứng với mức kinh phí đã được hỗ trợ để bảo đảm tính nghiêm minh và công bằng. Ngược lại, với các trường hợp gặp khó khăn thực sự, nên có cơ chế linh hoạt như gia hạn thời gian thực hiện nghĩa vụ, hoàn trả theo lộ trình hoặc xem xét miễn, giảm phù hợp để giảm áp lực cho người học.

“Điều quan trọng hơn cả không chỉ nằm ở các chế tài bồi hoàn, mà còn ở việc xây dựng môi trường làm việc, nghiên cứu và phát triển nghề nghiệp đủ hấp dẫn để người học mong muốn quay trở về cống hiến sau đào tạo.

Khi có cơ hội phát triển tốt, cơ chế đãi ngộ phù hợp và môi trường học thuật tích cực, người học sẽ chủ động thực hiện cam kết thay vì chỉ bị ràng buộc bởi các quy định mang tính chế tài”, thầy Đăng chia sẻ.

Trong khi đó, Thạc sĩ Lê Vũ khẳng định đây là vấn đề đặc biệt quan trọng bởi nếu không có cơ chế phân bổ hợp lý, Quỹ học bổng Quốc gia có thể vô tình làm gia tăng khoảng cách giữa các cơ sở giáo dục.

Việc triển khai quỹ cần dựa trên nguyên tắc hài hòa giữa “cạnh tranh” và “cân bằng phát triển”. Một mặt, học bổng phải được phân bổ dựa trên chất lượng, năng lực và hiệu quả thực tế để bảo đảm giá trị đầu tư; mặt khác, cũng cần có cơ chế ưu tiên phù hợp cho các vùng khó khăn, các trường địa phương, cũng như những ngành nền tảng và khoa học cơ bản - những lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với sự phát triển lâu dài nhưng thường khó thu hút nguồn lực xã hội hóa.

112.png
Giảng viên và sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng). Ảnh: website nhà trường.

Giám đốc Trung tâm Học liệu và Truyền thông, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng) đề xuất có thể xây dựng cơ chế phân bổ theo ba lớp. Trong đó, lớp thứ nhất là quỹ cạnh tranh quốc gia dành cho các ứng viên xuất sắc nhất, không phân biệt trường học hay địa phương nhằm tạo động lực phấn đấu và thu hút nhân tài.

Lớp thứ hai là quỹ ưu tiên cho vùng miền khó khăn và các ngành chiến lược để góp phần thu hẹp bất bình đẳng về cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng cao.

Lớp thứ ba là quỹ đồng tài trợ với doanh nghiệp, địa phương hoặc cơ sở giáo dục nhằm gắn đào tạo với nhu cầu nhân lực thực tiễn và nâng cao khả năng ứng dụng sau đào tạo.

“Ngoài ra, cần công khai dữ liệu phân bổ học bổng hằng năm theo ngành, vùng miền, giới tính, nhóm đối tượng và cơ sở giáo dục để xã hội giám sát, tính minh bạch sẽ quyết định niềm tin vào Quỹ.

Tôi cũng cho rằng nên tránh tư duy “xin - cho” trong phân bổ học bổng, Quỹ học bổng Quốc gia nên vận hành như một cơ chế đầu tư chiến lược cho tương lai đất nước, lấy hiệu quả phát triển nguồn nhân lực và đổi mới sáng tạo làm trung tâm, làm thước đo”, Thạc sĩ Lê Vũ nêu quan điểm.

Đình Nam