EMagazine

“Bộ lọc” mới cho đại học: 3 đại học vùng đối mặt áp lực từ tỷ lệ tiến sĩ đến năng suất NCKH

“Bộ lọc” mới cho đại học: 3 đại học vùng đối mặt áp lực từ tỷ lệ tiến sĩ đến năng suất NCKH

22/04/2026 06:28
Doãn Nhàn
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Từ thực tiễn của 3 đại học vùng, có thể thấy khoảng cách nhất định so với bộ tiêu chí mới, đặc biệt ở các chỉ số về đội ngũ tiến sĩ, năng suất nghiên cứu.

Ngày 14/1/1993, Hội nghị Trung ương 4 khóa VII ban hành Nghị quyết số 04-NQ/HNTW về tiếp tục đổi mới giáo dục và đào tạo, trong đó xác định nhiệm vụ “xây dựng một số trường đại học trọng điểm quốc gia” làm đầu tàu cho hệ thống giáo dục đại học.

Cụ thể hóa chủ trương này, ngày 04/4/1994, Chính phủ lần lượt ban hành các Nghị định số 30/CP, 31/CP và 32/CP, thành lập 3 đại học vùng: Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng và Đại học Thái Nguyên.

Sự ra đời của các đại học vùng (cùng với hai đại học quốc gia) được kỳ vọng là một giải pháp chiến lược nhằm hình thành các trung tâm đào tạo, nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực; nâng cao năng lực cạnh tranh về giáo dục, khoa học và công nghệ trong bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Trong nhiều thập kỷ qua, mô hình đại học vùng đã vận hành hiệu quả như một "cơ chế tích hợp". Thông qua việc tập hợp các trường, khoa chuyên ngành vào một hệ thống chung, các đơn vị này đã tận dụng khai thác nguồn lực về cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm và đội ngũ giảng viên tinh hoa,...

Sau hơn 30 năm thực hiện sứ mệnh tích hợp, nay các đại học vùng đang đứng trước yêu cầu phải tự làm mới mình để vượt qua những tiêu chuẩn gắt gao hơn của giai đoạn mới, với những yêu cầu phát triển mới của đất nước.

Theo Luật Giáo dục đại học 2025, đại học vùng tiếp tục được xác định sứ mạng đào tạo nhân lực trình độ cao, phát triển nhân tài, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, chuyển giao tri thức và thúc đẩy liên kết vùng, góp phần thực hiện chiến lược phát triển quốc gia.

Đáng chú ý, Nghị định 91/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 vừa được Chính phủ ban hành đã định lượng các tiêu chí công nhận đại học, được xem như một “bộ lọc” nhằm chuẩn hóa mô hình này. Không chỉ quy định điều kiện nâng cấp, duy trì đại học, Nghị định còn bổ sung tiêu chí riêng đối với đại học vùng và đại học quốc gia.

Yêu cầu để được công nhận là đại học vùng, đại học quốc gia theo Nghị định 91 như sau:

Nhóm điều kiện Tiêu chí cụ thể Yêu cầu
Phê duyệt đề án Đề án phát triển Được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển thành đại học vùng hoặc đại học quốc gia
Nội dung đề án Phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm, quy hoạch vùng; xác định rõ sự cần thiết, mục tiêu, chỉ tiêu phát triển, nhiệm vụ, giải pháp, nguồn lực và lộ trình thực hiện
Tổ chức thành viên Số lượng trường thành viên Có ít nhất 05 trường đại học thành viên
Chất lượng và điều kiện Các trường thành viên phải đáp ứng Chuẩn cơ sở giáo dục đại học (đối với cơ sở có đào tạo tiến sĩ) hoặc đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 5
Yêu cầu duy trì Các điều kiện phải được duy trì liên tục ít nhất 03 năm tính đến ngày 31/12 của năm liền kề trước năm nộp hồ sơ
Lĩnh vực đào tạo Đối với đại học quốc gia Tổ chức đào tạo ở tất cả các trình độ của giáo dục đại học đối với các lĩnh vực: khoa học tự nhiên; toán và thống kê; kỹ thuật; máy tính và công nghệ thông tin; khoa học xã hội và hành vi; nhân văn; kinh doanh và quản lý; sức khỏe
Điều kiện chung Đối với đại học vùng Tổ chức đào tạo ở tất cả các trình độ của giáo dục đại học, nhiều ngành thuộc các lĩnh vực khác nhau, phù hợp với chiến lược phát triển nguồn nhân lực của vùng hoặc liên kết vùng
Tiêu chí đại học Đồng thời phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được công nhận là đại học theo quy định tại Điều 4 Nghị định

Theo đó, để được công nhận là đại học vùng, cơ sở giáo dục đại học phải được Thủ tướng phê duyệt đề án phát triển phù hợp quy hoạch mạng lưới; có ít nhất 5 trường thành viên đáp ứng Chuẩn cơ sở giáo dục đại học đối với cơ sở giáo dục đại học có đào tạo trình độ tiến sĩ hoặc trường thuộc đáp ứng các điều kiện đối với trường thuộc cơ sở giáo dục đại học; duy trì các điều kiện trong tối thiểu 3 năm; đồng thời tổ chức đào tạo đa ngành ở tất cả các trình độ, gắn với chiến lược phát triển nguồn nhân lực của vùng.

Ngoài ra, cơ sở này cũng phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí chung của một đại học theo quy định. Cụ thể, bộ tiêu chí mới yêu cầu một đại học phải đáp ứng có ít nhất 3 trường thành viên, quy mô người học đạt tối thiểu 15.000, 25 ngành đào tạo tiến sĩ; tối thiểu 60% giảng viên có trình độ tiến sĩ và ít nhất 5% là giảng viên quốc tế. Tỷ lệ người học sau đại học phải đạt tối thiểu 20%, sinh viên quốc tế 3%.

Ở lĩnh vực nghiên cứu, mỗi giảng viên phải có bình quân ít nhất 1 sản phẩm khoa học/năm (bài báo WoS/Scopus, sách, sáng chế...). Đồng thời, nguồn thu từ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phải chiếm tối thiểu 20% tổng thu

Trong bối cảnh tiêu chuẩn ngày càng tiệm cận thông lệ quốc tế, câu hỏi đặt ra là các đại học vùng đang ở đâu trên hành trình đáp ứng yêu cầu của Nghị định 91.

Đại học Thái Nguyên

nang-cap-truong-dh-thanh-dh-7.png

Sau 30 năm phát triển, cơ cấu tổ chức của Đại học Thái Nguyên từng bước hoàn thiện theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực, trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu lớn của khu vực Trung du, miền núi phía Bắc.

Hiện nay, đại học này có 7 trường đại học thành viên, 1 trường cao đẳng cùng nhiều khoa, phân hiệu và đơn vị nghiên cứu. Theo Báo cáo thường niên năm 2025, tổng số giảng viên toàn thời gian là 2.413 người, trong đó 1.020 tiến sĩ, chiếm khoảng 42,27% - thấp hơn mức tối thiểu 60% theo yêu cầu tại Nghị định 91.

Quy mô đào tạo đạt hơn 78.400 sinh viên, trên 4.100 học viên cao học và hơn 450 nghiên cứu sinh. Tuy nhiên, năng suất công bố khoa học còn hạn chế, với bình quân 0,4 bài báo WoS/Scopus/giảng viên/năm (2024), chưa đạt yêu cầu tối thiểu. Tỉ trọng thu khoa học-công nghệ chiếm 7,4%, cũng chưa đạt yêu cầu tối thiểu 20% theo yêu cầu.

Mỗi năm, Đại học Thái Nguyên có khoảng trên 20.000 người học tốt nghiệp; đào tạo gần 300 ngành ở các trình độ, bao phủ hầu hết lĩnh vực (trừ an ninh - quốc phòng). Hệ thống cũng triển khai nhiều chương trình liên kết quốc tế, chương trình tiên tiến và chất lượng cao.

Năm 2025, Đại học Thái Nguyên tuyển sinh 121 ngành đào tạo đại học, cao đẳng với 21.588 chỉ tiêu, trong đó có 20.368 chỉ tiêu đại học và 1.220 chỉ tiêu cao đẳng.

Đến năm 2025, đơn vị có 81 chương trình đào tạo được kiểm định, trong đó 35 chương trình đạt chuẩn AUN-QA.

Đại học Huế

nang-cap-truong-dh-thanh-dh-8.png

Hiện nay, Đại học Huế có 8 trường đại học thành viên, 3 khoa trực thuộc và 1 phân hiệu tại Quảng Trị, tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm đào tạo, nghiên cứu lớn của khu vực miền Trung.

Theo Báo cáo thường niên, năm 2025, Đại học Huế duy trì 52 chương trình tiến sĩ, 93 chương trình thạc sĩ và 143 chương trình đại học.

Với quy mô đào tạo 613 nghiên cứu sinh, 4.339 học viên cao học, 53.745 sinh viên chính quy và 23.670 người học không chính quy.

Năm 2025, Đại học Huế tuyển sinh 16.358 chỉ tiêu, với gần 15.000 người nhập học.

Về nhân lực, toàn đại học có khoảng 3.701 viên chức, trong đó 1.983 giảng viên; số giảng viên có trình độ tiến sĩ là 861 người, tương đương khoảng 43% - vẫn thấp hơn ngưỡng 60% theo tiêu chuẩn mới. Đội ngũ có 240 phó giáo sư và 18 giáo sư.

Ở lĩnh vực nghiên cứu, Đại học Huế cho biết năm 2025, toàn đại học công bố 759 bài báo thuộc danh mục Scopus, 462 bài thuộc danh mục WoS, cùng hàng trăm công bố trong nước. Tính bình quân, mỗi giảng viên của Đại học Huế công bố khoảng 0,62 bài Scopus, WoS/năm, chưa đạt mức tối thiểu 1 bài/giảng viên/năm theo yêu cầu của chuẩn mới.

Đại học Đà Nẵng

nang-cap-truong-dh-thanh-dh-9.png

Đại học Đà Nẵng hiện có 6 trường thành viên cùng các đơn vị trực thuộc, đào tạo trên 18 lĩnh vực, với quy mô hơn 64.000 người học.

Theo Báo cáo thường niên năm 2025, tính đến ngày 28/2/2026, Đại học Đà Nẵng có 2.630 cán bộ, viên chức, trong đó có 12 giáo sư, 162 phó giáo sư, 890 tiến sĩ/tiến sĩ khoa học, đạt tỷ lệ gần 52% giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên - tiệm cận nhưng chưa đạt mức tối thiểu 60%.

Hệ thống đào tạo 32 ngành tiến sĩ, 49 ngành thạc sĩ và 158 ngành đại học. Tổng quy mô người học đạt 64.842, bao gồm hơn 53.800 sinh viên chính quy, gần 2.000 học viên cao học và 146 nghiên cứu sinh.

Ở lĩnh vực nghiên cứu, Đại học Đà Nẵng duy trì hơn 500 công bố quốc tế mỗi năm trên các tạp chí WoS/Scopus.

Năm 2025, Đại học Đà Nẵng có thêm 42 chương trình đào tạo đạt kiểm định theo tiêu chuẩn kiệm định, tính đến nay, đơn vị có 137 chương trình đào tạo đã đạt kiểm định, đạt chuẩn chất lượng theo các tiêu chuẩn trong và ngoài nước

Từ thực tiễn của 3 đại học vùng, có thể thấy khoảng cách nhất định so với bộ tiêu chí mới, đặc biệt ở các chỉ số về đội ngũ tiến sĩ, năng suất nghiên cứu.

Trong bối cảnh tiêu chuẩn ngày càng tiệm cận quốc tế, việc “đạt chuẩn” chỉ là điều kiện cần. Bài toán lớn hơn là nâng cao chất lượng thực chất, tăng cường năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và khẳng định vai trò dẫn dắt phát triển vùng.

Đây sẽ là giai đoạn bản lề, buộc các đại học vùng phải chuyển mình mạnh mẽ nếu muốn giữ vững vị trí trong hệ thống giáo dục đại học.

Nghị định 91/2026/NĐ-CP quy định: các đại học đã được chuyển đổi từ trường đại học hoặc được hình thành trên cơ sở liên kết giữa các trường đại học tiếp tục thực hiện theo quyết định đã ban hành. Đồng thời, trong thời hạn 5 năm kể từ khi Nghị định có hiệu lực, các cơ sở này phải xây dựng kế hoạch, lộ trình đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 4 và Điều 5, phù hợp với sứ mạng, chiến lược phát triển đã được cơ quan quản lý trực tiếp hoặc nhà đầu tư phê duyệt.

Theo Quyết định số 452/QĐ-TTg về quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050, mục tiêu đặt ra là tiếp tục phát triển các đại học quốc gia theo định hướng nghiên cứu, vươn tầm châu Á; đồng thời từng bước nâng cấp Đại học Huế và Đại học Đà Nẵng thành đại học quốc gia.

Ở cấp vùng, nhiều cơ sở như Đại học Thái Nguyên, Trường Đại học Vinh, Trường Đại học Nha Trang, Trường Đại học Tây Nguyên, Đại học Cần Thơ được định hướng trở thành nòng cốt để phát triển các đại học vùng, gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từng khu vực.

Tầm nhìn đến năm 2050, hệ thống đại học Việt Nam được kỳ vọng hình thành các trung tâm đào tạo, nghiên cứu đạt đẳng cấp quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ và y dược.

Doãn Nhàn