Thời cơ mới cho lĩnh vực giáo dục và đào tạo mở ra khi cùng lúc (từ ngày 01/01/2026) thực thi 4 luật, 2 nghị quyết đặc thù cho ngành: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục (Luật số 123/2025/QH15); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) (Luật số 124/2025/QH15); Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) (Luật số 125/2025/QH15); Nghị quyết số 248/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 249/2025/QH15 về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035.
Theo các đại biểu Quốc hội khóa XV, chuyên gia giáo dục, đây là một thời cơ, vận hội lớn chưa từng có cho giáo dục và đào tạo Việt Nam.
Một “hệ sinh thái pháp lý hoàn chỉnh” cho giáo dục và đào tạo
Theo Đại biểu Quốc hội Hà Ánh Phượng - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ, giáo dục và đào tạo Việt Nam đang đứng trước một thời cơ phát triển rất đặc biệt. “Trước hết, Nghị quyết số 71-NQ/TW đã “mở đường” về tư duy, xác lập rõ giáo dục và đào tạo là đột phá chiến lược mang tính nền tảng cho phát triển quốc gia. Việc cùng lúc thực thi 4 luật và 2 nghị quyết về lĩnh vực giáo dục và đào tạo từ ngày 01/01/2026 tạo nên một “hệ sinh thái pháp lý hoàn chỉnh” cho giáo dục, điều mà trước đây chưa từng có. Tôi cho rằng, đây chính là thời điểm chuyển từ “đổi mới từng phần” sang “cải cách mang tính hệ thống”, từ tháo gỡ khó khăn sang kiến tạo động lực phát triển dài hạn cho giáo dục và đào tạo Việt Nam” - nữ đại biểu bày tỏ.
Đại biểu Quốc hội Dương Minh Ánh - Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội cũng nhìn nhận, ngành giáo dục và đào tạo đang đứng trước một thời cơ, vận hội lớn chưa từng có, khi được Đảng, Quốc hội và Chính phủ đặc biệt quan tâm như hiện nay.
“Nghị quyết số 71-NQ/TW đã thể hiện quan điểm coi giáo dục và đào tạo không chỉ như một lĩnh vực xã hội, mà là trụ cột của phát triển con người, nguồn nhân lực và sức cạnh tranh quốc gia. Việc Quốc hội ban hành các luật và nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo trong một kỳ họp thể hiện sự quyết tâm rất cao từ phía Chính phủ và Quốc hội để sớm cụ thể hóa Nghị quyết số 71 thành những công cụ pháp lý hữu hiệu, khắc phục những “điểm nghẽn” kéo dài, tái cấu trúc lại toàn diện hệ thống giáo dục, từ quản trị, đội ngũ, chương trình, đến gắn kết với thị trường lao động và khoa học - công nghệ.
Nếu được triển khai nghiêm túc, đây sẽ là cơ hội để ngành giáo dục và đào tạo chuyển sang một giai đoạn phát triển chủ động hơn, gắn chặt hơn với yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới” - Đại biểu Dương Minh Ánh bày tỏ.
Đại biểu Dương Minh Ánh cho biết, trong quá trình tiếp xúc cử tri, đại biểu đã thường xuyên nhận được những ý kiến liên quan đến tình trạng thiếu trường, quá tải lớp học, thiếu không gian học tập cho trẻ em, nhất là ở các khu đô thị mới của Hà Nội.
Vì vậy, nữ đại biểu cho rằng: “Việc tiếp tục khẳng định chi tối thiểu 20% ngân sách nhà nước cho giáo dục, đồng thời ưu tiên “quỹ đất” cho cơ sở giáo dục trong quy hoạch hay sử dụng trụ sở dôi dư sau sắp xếp chính quyền địa phương 2 cấp… là những chính sách chạm đúng vào nhu cầu thực tiễn của người dân.
Các quy định này khi được triển khai nghiêm túc sẽ giúp địa phương chủ động hơn trong đầu tư trường lớp, cải thiện điều kiện học tập, chăm lo tốt hơn cho đội ngũ nhà giáo, đồng thời thu hẹp dần khoảng cách tiếp cận giáo dục giữa các khu vực trong cùng một đô thị lớn như Hà Nội.
Tôi cũng mong muốn các địa phương, trong đó có Hà Nội, sẽ coi đây là một cam kết chính trị đối với thế hệ trẻ, chứ không chỉ là một yêu cầu về kỹ thuật ngân sách hay quy hoạch”.
Đại biểu Hà Ánh Phượng cũng nhìn nhận, những quy định trên sẽ tạo ra ba đột phá rất rõ nét. Thứ nhất, đột phá về hạ tầng giáo dục, đặc biệt ở các vùng khó khăn. Khi nguồn lực tài chính và quỹ đất được bảo đảm ngay từ khâu quy hoạch, các địa phương sẽ chủ động hơn trong đầu tư trường lớp, ký túc xá, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, khắc phục tình trạng thiếu đất - thiếu vốn - thiếu tầm nhìn dài hạn. Thứ hai, đột phá về công bằng trong tiếp cận giáo dục. Việc ưu tiên vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo sẽ giúp thu hẹp khoảng cách chất lượng giáo dục giữa các vùng miền, đúng với tinh thần “không ai bị bỏ lại phía sau”. Thứ ba, đột phá về huy động nguồn lực xã hội. Khi “quỹ đất” công, trụ sở dôi dư được sử dụng hiệu quả để thu hút đầu tư, giáo dục địa phương sẽ có thêm nguồn lực ngoài ngân sách, hình thành các mô hình hợp tác công-tư phù hợp, nhưng vẫn bảo đảm vai trò điều tiết của Nhà nước.
Mở ra những cơ hội lịch sử
Từ những cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để phát triển đột phá giáo dục và đào tạo, Đại biểu Hà Ánh Phượng chỉ ra ít nhất bốn cơ hội lớn: Một là, cơ hội tái cấu trúc hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng linh hoạt, hiện đại, gắn với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chuyển đổi số quốc gia. Hai là, cơ hội nâng cao vị thế của đội ngũ nhà giáo. Luật Nhà giáo cùng các chính sách đi kèm lần đầu tiên đặt nhà giáo vào “trung tâm của cải cách” không chỉ là người thực thi mà là chủ thể của đổi mới. Ba là, cơ hội phát triển giáo dục vùng khó khăn một cách bền vững, không chỉ bằng hỗ trợ ngắn hạn, mà bằng cơ chế ưu tiên lâu dài, ổn định. Bốn là, cơ hội hội nhập quốc tế sâu rộng hơn trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, khi khung pháp lý mới cho phép tăng quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình.
Còn với góc nhìn của Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng, các cơ chế, chính sách trên sẽ mở ra những cơ hội chưa từng có cho giáo dục và đào tạo Việt Nam:
Trước hết, về nguồn lực tài chính, Nhà nước bảo đảm chi tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, ưu tiên từ nguồn tăng thu và vùng khó khăn, kết hợp tự chủ thu nhập tăng thêm từ nguồn hợp pháp, sẽ tạo đột phá mạnh mẽ cho giáo dục địa phương bằng cách tháo gỡ “nút thắt” lớn nhất hiện nay là thiếu nguồn lực tài chính. Qua đó, tạo điều kiện đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở vật chất hiện đại, trang thiết bị công nghệ cao, chuyển đổi số toàn diện, giúp các tỉnh tăng cường đầu tư kiên cố hóa trường lớp, đặc biệt hỗ trợ vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số xây dựng trường chuẩn quốc gia, nâng cao chất lượng dạy và học toàn diện, giảm bất bình đẳng vùng miền.
Thứ hai, các chính sách đãi ngộ đột phá cho nhà giáo sẽ thu hút và giữ chân nhân tài, nâng cao vị thế nhà giáo, tạo động lực đổi mới sáng tạo trong giảng dạy, góp phần xây dựng đội ngũ nhà giáo tinh hoa, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Thứ ba, các chính sách mới đảm bảo công bằng trong tiếp cận giáo dục, thúc đẩy xã hội hóa, hợp tác công-tư… Đặc biệt, với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, các đột phá sẽ rất rõ nét: nguồn ngân sách ổn định và tăng cường chi đầu tư, ưu tiên “quỹ đất” trong quy hoạch tỉnh/thành, chuyển đổi linh hoạt mục đích sử dụng đất giáo dục mà không phụ thuộc cứng nhắc vào kế hoạch sử dụng đất…, sẽ tạo điều kiện xây dựng các campus hiện đại, khu nghiên cứu, phòng thí nghiệm tiên tiến, thúc đẩy tự chủ thực chất cho các trường đại học.
“Đây chính là những vận hội lớn để giáo dục Việt Nam thực sự chấn hưng, đóng góp quyết định vào mục tiêu dân giàu, nước mạnh vào năm 2045” - Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh khẳng định.
Đảm bảo điều kiện để nhà giáo toàn tâm toàn ý đổi mới
Đối với lĩnh vực giáo dục phổ thông, Đại biểu Hà Ánh Phượng đặc biệt quan tâm và đánh giá chủ trương sử dụng thống nhất một bộ sách giáo khoa và lộ trình miễn phí sách giáo khoa là một chủ trương nhân văn, đúng đắn. Điều này giúp giảm gánh nặng chi phí học tập cho gia đình, nhất là hộ nghèo, cận nghèo; bảo đảm sự thống nhất, ổn định trong tổ chức dạy học; tạo điều kiện để học sinh được tiếp cận tri thức một cách bình đẳng hơn.
Tuy nhiên, ngành giáo dục cũng đang đứng trước một số thách thức cần khắc phục sớm, như: Bảo đảm chất lượng, cung ứng kịp thời, nhất là ở vùng sâu, vùng xa; Có lộ trình tập huấn giáo viên phù hợp để sử dụng hiệu quả bộ sách được lựa chọn dùng chung.
Bên cạnh đó, Đại biểu Hà Ánh Phượng cũng bày tỏ: “Việc trao quyền tuyển dụng, sử dụng nhân sự theo “ngành dọc” là một bước cải cách rất mạnh, có thể khắc phục tình trạng thiếu giáo viên cục bộ, mất cân đối cơ cấu bộ môn như hiện nay.
Nhưng để thực sự phát huy hiệu quả, chế độ, chính sách đi kèm cho nhà giáo cũng cần được đặc biệt quan tâm. Theo tôi, cần lưu ý bảo đảm quyền lợi về tiền lương, phụ cấp, thâm niên, nhất là với giáo viên công tác ở vùng khó khăn; Có chính sách ổn định tâm lý nghề nghiệp, tránh xáo trộn không cần thiết khi điều động, luân chuyển; Và xây dựng “lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng”, để giáo viên thấy được cơ hội học tập, thăng tiến, cống hiến lâu dài.
Nhà giáo chỉ có thể toàn tâm toàn ý đổi mới khi họ được bảo đảm đời sống, được tôn trọng và được trao niềm tin”.
“Mở nút thắt” đối với giáo dục nghề nghiệp
Là người có thâm niên công tác và dày dặn kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, Đại biểu Dương Minh Ánh cho rằng, các chính sách mới được ban hành sẽ tạo ra tác động khá toàn diện và có tính “mở nút thắt” đối với giáo dục nghề nghiệp:
Trước hết, về nhận thức và vị thế, giáo dục nghề nghiệp lần này được đặt đúng vai trò là một trụ cột quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực kỹ năng, gắn trực tiếp với thị trường lao động và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đây là thay đổi rất căn bản về tư duy khi xây dựng chính sách.
Các chính sách mới tạo điều kiện thuận lợi hơn cho giáo dục nghề nghiệp trong tiếp cận ngân sách, đất đai và xã hội hóa; cơ chế tự chủ của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đồng thời mở rộng không gian để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo. Đặc biệt, người học sẽ có nhiều lựa chọn học tập linh hoạt hơn, nâng cao khả năng có việc làm, ổn định thu nhập và lập nghiệp bền vững.
Tuy nhiên, theo Đại biểu Dương Minh Ánh, điểm then chốt quyết định thành bại của các chính sách mới về giáo dục nghề nghiệp không nằm ở chủ trương, mà nằm ở cách tổ chức thực hiện. Nếu không nhìn thẳng vào những rủi ro trong khâu triển khai, rất dễ rơi vào tình trạng chính sách thì đúng nhưng hiệu quả chưa tương xứng. Do vậy, cần phải quan tâm những vấn đề sau:
Thứ nhất, cần tránh tư duy “ban hành chính sách là xong”, thiếu đầu tư cho khâu thực thi. Thực tế cho thấy, nhiều chính sách về giáo dục nghề nghiệp trước đây triển khai chậm, hiệu quả hạn chế không phải vì thiếu quy định, mà vì thiếu hướng dẫn cụ thể, thiếu nguồn lực đi kèm và thiếu cơ chế chịu trách nhiệm rõ ràng. Với các chính sách mới lần này, nếu không làm rõ “ai làm, làm đến đâu, làm thế nào và chịu trách nhiệm ra sao”, thì rất khó tạo ra chuyển biến thực chất.
Thứ hai, phải khắc phục tình trạng triển khai hình thức, chạy theo chỉ tiêu. Một nguy cơ hiện hữu là địa phương và cơ sở đào tạo khi thực hiện tự chủ về tài chính có thể chạy theo số lượng tuyển sinh, số lớp mở ra, số thỏa thuận ký kết với doanh nghiệp, trong khi chất lượng đào tạo và cơ hội việc làm sau tốt nghiệp chưa được bảo đảm nghiêm ngặt. Nếu không thay đổi cách đánh giá, lấy chất lượng đầu ra và mức độ đáp ứng nhu cầu thị trường lao động làm thước đo thì giáo dục nghề nghiệp rất khó nâng tầm.
Thứ ba, cần kiểm soát chặt việc doanh nghiệp tham gia đào tạo để tránh lệch mục tiêu. Doanh nghiệp tham gia là rất cần thiết, nhưng nếu thiếu cơ chế giám sát, có thể dẫn tới tình trạng doanh nghiệp chỉ quan tâm lợi ích ngắn hạn, coi người học như lao động thời vụ giá rẻ. Vì vậy, Nhà nước và địa phương phải giữ vai trò điều tiết, bảo đảm mục tiêu giáo dục, quyền lợi người học và chất lượng kỹ năng lâu dài.
Thứ tư, phải đầu tư thực chất cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp. Chính sách dù tốt đến đâu cũng không thể đi vào cuộc sống nếu đội ngũ thực hiện chưa được chuẩn bị đầy đủ. Hiện nay, nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn thiếu giáo viên giỏi thực hành, thiếu cán bộ quản lý có tư duy thị trường lao động và công nghệ mới. Nếu không coi đây là khâu đột phá, các chính sách mới rất khó phát huy hiệu quả.
Thứ năm, cần tăng cường cơ chế giám sát, phản biện xã hội và điều chỉnh linh hoạt. Giáo dục nghề nghiệp gắn chặt với biến động của thị trường lao động. Vì vậy, trong quá trình triển khai chính sách, cần có cơ chế theo dõi, đánh giá thường xuyên, kịp thời điều chỉnh những quy định không còn phù hợp, đồng thời phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức xã hội và chính bản thân người học.
Một trong những điểm mới mở ra nhiều cơ hội trong lĩnh vực này, chính là khẳng định vai trò quan trọng của doanh nghiệp đối với giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là quỹ đào tạo nhân lực của doanh nghiệp nhằm huy động sự tham gia hiệu quả, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo.
Doanh nghiệp tham gia đào tạo lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp là rất cần thiết, nhưng không thể để mục tiêu đào tạo bị lấn át bởi lợi ích ngắn hạn. Ảnh: Mộc Trà.
Đại biểu Dương Minh Ánh chia sẻ: “Việc coi doanh nghiệp là đối tác trung tâm trong giáo dục nghề nghiệp là một bước tiến rất quan trọng về tư duy chính sách. Các ưu đãi về thuế, đất đai, cũng như việc hình thành quỹ đào tạo nhân lực của doanh nghiệp sẽ tạo ra mối liên kết thực chất hơn giữa đào tạo và sử dụng lao động, giúp giáo dục nghề nghiệp thoát khỏi tình trạng “đào tạo xong mới tìm việc”, chuyển sang mô hình “đào tạo gắn với việc làm ngay từ đầu”. Điều này có lợi cho cả doanh nghiệp, người học và xã hội.
Tuy nhiên, tôi cho rằng, cần đặc biệt lưu ý đến cơ chế kiểm soát và bảo vệ người học. Doanh nghiệp tham gia đào tạo là rất cần thiết, nhưng không thể để mục tiêu đào tạo bị lấn át bởi lợi ích ngắn hạn. Vai trò điều tiết của Nhà nước, nhất là trong giám sát chất lượng và sử dụng các nguồn quỹ cần phải minh bạch, rõ ràng là điều hết sức quan trọng”.
“Cú hích” biến giáo dục đại học thành động lực then chốt
Đối với lĩnh vực giáo dục đại học, Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh đánh giá cao sự chuyển dịch quan điểm sâu sắc trong Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) từ “tự chủ là tự lo” sang cơ chế Nhà nước và cơ sở giáo dục đại học cùng chia sẻ trách nhiệm, chăm lo phát triển hệ thống.
Theo nữ đại biểu, đây chính là “cú hích” mạnh mẽ, mang tính đột phá để các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam bứt phá trong giai đoạn tới:
Trước hết, việc trao quyền tự chủ toàn diện, pháp định - không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính - về học thuật, tổ chức nhân sự, đào tạo, nghiên cứu khoa học, tài chính, hợp tác quốc tế và ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo sẽ “cởi trói” cho các trường, giúp chủ động quyết định mục tiêu, chương trình đào tạo linh hoạt, đa dạng hóa phương thức (trực tiếp, từ xa, giáo dục số), gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp và nhu cầu thị trường, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nghiên cứu khoa học thực tiễn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao.
Thứ hai, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo hỗ trợ đầu tư dài hạn (ưu tiên ngân sách cho ngành mũi nhọn đạt chuẩn khu vực, quốc tế), đẩy mạnh hợp tác công-tư, thu hút nguồn lực xã hội hóa, hợp tác quốc tế sẽ tạo nguồn lực ổn định, giảm gánh nặng tài chính cho các trường công lập, đồng thời khuyến khích trường tư thục phát triển bền vững, hình thành các trung tâm đại học tinh hoa, campus hiện đại.
Thứ ba, tự chủ gắn chặt với trách nhiệm giải trình minh bạch, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, kiểm định chất lượng độc lập sẽ nâng cao quản trị hiện đại, chuyên nghiệp, tăng cường giám sát xã hội, tránh lạm dụng, đảm bảo hiệu quả và liêm chính học thuật. Những “cú hích” này sẽ giúp các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam hội nhập sâu rộng, đưa một số trường vào “top” xếp hạng châu Á và thế giới, góp phần thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, biến giáo dục đại học thành động lực then chốt cho đổi mới sáng tạo, kinh tế tri thức và mục tiêu nước phát triển thu nhập cao vào năm 2045.
Mặt khác, Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh cũng chỉ ra, các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam hiện đang đứng trước thời cơ lịch sử lớn lao, nhưng đồng thời cũng đối mặt với những thách thức không nhỏ trong việc thực hiện chuyển đổi số.
Theo đó, thời cơ nổi bật là sự ưu tiên nguồn lực chưa từng có từ Nhà nước: Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo thống nhất, đầu tư hạ tầng số, nền tảng số dùng chung đảm bảo kết nối liên thông toàn hệ thống; đến năm 2030, các trường đại học cơ bản hoàn thành hạ tầng số đồng bộ, kết hợp khuyến khích doanh nghiệp đầu tư theo mô hình đối tác công-tư (PPP). Điều này mở ra cơ hội phát triển giáo dục đại học số hiện đại, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị, đào tạo linh hoạt (trực tuyến, kết hợp, từ xa), cá nhân hóa học tập, chia sẻ tài nguyên mở, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, hội nhập quốc tế sâu rộng, đưa một số trường vào xếp hạng hàng đầu khu vực.
Nhưng vẫn còn nhiều thách thức vì hạ tầng số hiện nay chưa đồng bộ giữa các trường, đặc biệt ở vùng khó khăn; thiếu kinh phí duy trì lâu dài; năng lực số của giảng viên, cán bộ quản lý và sinh viên chưa đồng đều; thiếu nhân lực công nghệ cao chuyên trách; an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu chưa được đảm bảo tuyệt đối; cùng với đó là việc chuyển đổi tư duy từ truyền thống sang số hóa toàn diện. Nếu không vượt qua, sẽ khó đạt mục tiêu chấn hưng giáo dục đại học, đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho kinh tế tri thức.
“Để thực hiện mục tiêu đến năm 2030, cần lộ trình cụ thể, đồng bộ: giai đoạn 2026-2027 tập trung hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia “đúng-đủ-sạch-sống-thống nhất-dùng chung”, triển khai văn bằng số đại trà, đầu tư hạ tầng số cơ bản (mạng tốc độ cao, thiết bị thông minh) và nền tảng học tập, quản lý dùng chung toàn quốc; giai đoạn 2028-2030 đẩy mạnh ứng dụng AI có kiểm soát trong giảng dạy, đánh giá, nghiên cứu; mở rộng hợp tác PPP với doanh nghiệp để phát triển sản phẩm, dịch vụ giáo dục số; đồng thời đào tạo, bồi dưỡng năng lực số cho 100% giảng viên, cán bộ; tăng cường kiểm định chất lượng độc lập và giám sát an ninh mạng. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch chi tiết, phân bổ nguồn lực ưu tiên, gắn với trách nhiệm giải trình để đảm bảo hiệu quả, biến chuyển đổi số thành động lực then chốt cho sự phát triển bền vững của giáo dục đại học Việt Nam” - nữ đại biểu phân tích thêm.
Cơ chế mở ra nhiều cơ hội mới
Việc cho phép cơ sở giáo dục hợp tác với tổ chức khoa học, công nghệ, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và các tổ chức khác để thực hiện chương trình giáo dục và đào tạo gắn nhu cầu thị trường lao động, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo… cũng được kỳ vọng sẽ mở ra những cơ hội mới trong thời gian tới cho giáo dục và đào tạo.
Đại biểu Dương Minh Ánh nhìn nhận, điều này tạo cơ hội lớn nhất là giúp rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo - nghiên cứu - sản xuất - thị trường, tạo điều kiện để chương trình đào tạo cập nhật nhanh hơn với thực tiễn, đồng thời thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ ngay trong các cơ sở giáo dục.
Cụ thể với thành phố Hà Nội - nơi tập trung nhiều trường đại học, viện nghiên cứu và trung tâm sáng tạo cũng là nơi đầu tiên hình thành Khu công nghệ cao và Khu công nghiệp trong cả nước, được giao trọng trách là trung tâm khoa học - công nghệ trọng điểm, giữ vai trò “hạt nhân” thúc đẩy hình thành đô thị khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo mở ra cơ hội hình thành các mô hình đào tạo - nghiên cứu - đổi mới sáng tạo, tạo nên hệ sinh thái nghiên cứu, triển khai, sản xuất đồng bộ, giúp người học được tiếp cận sớm với môi trường nghiên cứu hiện đại, các sản phẩm sáng tạo cũng được tiếp cận với thị trường lao động nhanh và hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, để đảm bảo triển khai có hiệu quả cần có thêm những cơ chế cụ thể, rõ ràng hơn như tại Khu công nghệ cao và Khu công nghiệp Hoà Lạc (Hà Nội), cần có cơ chế quản lý, vận hành quy định cho phép sinh viên, nhà khoa học ở các trường đại học được sử dụng các phòng lab dùng chung để nghiên cứu; để thu hút các nhà khoa học, chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực công nghệ, cần có cơ chế ưu đãi thực chất cho nhân sự công nghệ cao, hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho người trẻ an cư để yên tâm lập nghiệp, công nhận chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D) là chi phí hợp lệ, tạo hành lang cho các nhóm nghiên cứu dám thử nghiệm và dám chấp nhận rủi ro…
“Nếu được triển khai một cách bài bản, tôi tin rằng, với chính sách trên, các cơ sở giáo dục đại học của Hà Nội hoàn toàn có thể trở thành trung tâm giáo dục - đào tạo và đổi mới sáng tạo, tiến gần hơn tới chuẩn mực của nền giáo dục phát triển trên thế giới và có sức lan tỏa trên phạm vi cả nước” - Đại biểu Dương Minh Ánh bày tỏ.