Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) - Luật 124/2025/QH15 đặt ra nhiều kỳ vọng về việc tháo gỡ những điểm nghẽn trong đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực.
Nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ năm 2026, Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam ghi nhận những đề xuất, kiến nghị từ cơ sở giáo dục nghề nghiệp, nhằm góp thêm góc nhìn từ thực tiễn, “hiến kế” để Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) được triển khai một cách đồng bộ và đạt hiệu quả cao.
Cơ sở giáo dục nghề nghiệp tâm đắc với nhiều điểm mới của Luật
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ, Bác sĩ Phạm Văn Tân - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội cho biết, với Luật 124, thầy tâm đắc với quy định về cấp phép hoạt động giáo dục nghề nghiệp (Điều 19) và tuyển sinh, tổ chức đào tạo (Điều 20). Bởi, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp sẽ được chủ động hơn trong xác định chỉ tiêu, miễn sao là có đầy đủ hồ sơ, văn bản giải trình theo yêu cầu. Từ đó, giúp nhà trường linh hoạt hơn thay vì phải chờ đợi phê duyệt chỉ tiêu kéo dài như trước.
Luật 124 cũng đã mở rộng quyền tự chủ trong hoạt động hợp tác quốc tế. Trước đây, mỗi chương trình hợp tác quốc tế đều phải xin phép, nhiều khi thủ tục kéo dài khiến nhà trường lỡ mất cơ hội. Do đó, khi trao quyền chủ động, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp sẽ nhanh nhạy hơn trong việc kết nối, học hỏi kinh nghiệm quốc tế.
Tiếp cận Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi), Thạc sĩ Vi Hồng Thắm – Giám đốc Trung tâm Khoa học công nghệ và Dịch vụ đào tạo bồi dưỡng, Trường Cao đẳng Lạng Sơn đặc biệt ấn tượng với định hướng gắn đào tạo nghề chặt chẽ hơn với doanh nghiệp và thị trường lao động, một hướng đi đúng, đánh trúng yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh chất lượng nguồn nhân lực đang chịu sức ép lớn từ thị trường.
Tuy nhiên, để quy định này thực sự phát huy hiệu quả, cô Thắm cho rằng cần luật hóa rõ hơn vai trò của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần được trao cơ chế tham gia sâu hơn vào hoạt động của nhà trường, nhất là trong hội đồng khoa học và đào tạo, từ khâu định hướng chuyên môn đến tham gia bảo đảm chất lượng đào tạo.
Bên cạnh đó, cần thiết phải có các văn bản quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của nhà giáo, theo hướng tăng tính bảo vệ và về chế độ đãi ngộ.
Cơ chế “giảng viên đồng cơ hữu” cũng được cô Thắm đánh giá cao, là giải pháp thiết thực giúp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ động huy động đội ngũ chuyên gia, kỹ sư, cán bộ kỹ thuật từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy, qua đó rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn sản xuất, kinh doanh.
Cùng chia sẻ, phó hiệu trưởng một trường cao đẳng ở Bắc Ninh cho rằng, sự tồn tại và phát triển của các trường nghề gắn chặt với doanh nghiệp. Trong khi đó, doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực đào tạo nghề còn rất hạn chế, nhiều ngành, nhất là các nghề sửa chữa kỹ thuật, doanh nghiệp thường tự đào tạo theo nhu cầu riêng.
“Với những nghề như sửa chữa ô tô, doanh nghiệp khó có thể tiếp nhận ngay sinh viên vừa tốt nghiệp để làm việc trực tiếp tại các gara, do yêu cầu về kinh nghiệm thực tế, sự am hiểu từng dòng xe và chi phí nhân công. Do đó, việc Luật nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp là một bước đổi mới rất đúng.
Khi có cơ chế phù hợp, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, họ sẽ sẵn sàng tiếp nhận và sử dụng nguồn nhân lực do các trường nghề đào tạo. Điều này đã được Luật thể hiện khá rõ ở Điều 34 và Điều 35, khi đưa ra yêu cầu doanh nghiệp quan tâm thực chất đến đào tạo nhân lực, và có quỹ cho hoạt động này. Theo đó, doanh nghiệp sẽ đặt hàng các cơ sở đào tạo theo đúng nhu cầu sử dụng thay vì để các trường đào tạo dựa trên những gì sẵn có”, vị phó hiệu trưởng chia sẻ.
Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) đưa vào mô hình trung học nghề đã nhận được nhiều sự quan tâm, đánh giá cao. Cô Thắm cho rằng, để triển khai hiệu quả và tránh rơi vào hình thức hoặc chồng chéo với các mô hình hiện hành, điều quan trọng trước hết là phải luật hóa rõ vai trò của doanh nghiệp, đi kèm cơ chế tài chính phù hợp. Việc mở mô hình trung học nghề cần gắn với phân luồng sớm và tạo liên thông thực chất, giúp học sinh có định hướng nghề nghiệp rõ ràng ngay từ đầu, hạn chế lãng phí thời gian, chi phí xã hội, đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
“Mô hình trung học nghề kỳ vọng sẽ góp phần khắc phục tình trạng đào tạo xa rời thực tế, học xong khó tìm việc làm”, cô Thắm chia sẻ.
Bên cạnh đó, theo cô Thắm, cần sớm có thông tư liên tịch quy định chương trình văn hóa tại các trường trung học nghề theo hướng tinh giản, tích hợp trực tiếp vào chương trình nghề, nhấn mạnh tính ứng dụng. Mục tiêu là tránh để học sinh rơi vào tình trạng quá tải hoặc học mang tính đối phó chỉ để lấy bằng phổ thông. Chương trình cần được chuẩn hóa, bằng trung học nghề có giá trị pháp lý tương đương bằng trung học phổ thông để tạo sự yên tâm cho người học khi lựa chọn con đường học lên đại học hoặc tham gia thị trường lao động chất lượng cao.
Đồng tình với chia sẻ trên, vị phó hiệu trưởng trường cao đẳng ở Bắc Ninh cho rằng, việc đưa mô hình trung học nghề vào hệ thống giáo dục là phù hợp về mặt khoa học, tương thích với tâm sinh lý lứa tuổi và thể chất của học sinh Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải xây dựng chương trình văn hóa tinh gọn, thiết thực, đáp ứng nhu cầu của người học nghề và định hướng phát triển lâu dài của các em. Chương trình cần bảo đảm học sinh tiếp thu được nền tảng kiến thức phục vụ học nghề, đồng thời có khả năng phát triển lên trình độ cao hơn trong tương lai, kể cả trở thành kỹ sư.
Tăng tính minh bạch của cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) quy định về quản lý đăng ký hoạt động trên nền tảng dữ liệu số. Theo cô Thắm đánh giá, đây là quy định cần thiết trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số hiện nay. Thực tế, tại Trường Cao đẳng Lạng Sơn đã và đang vận hành các phần mềm quản lý kết nối trực tiếp với cơ sở dữ liệu quốc gia. Mọi biến động liên quan đến viên chức, người lao động, đội ngũ giảng viên, học sinh sinh viên nhập học hay tốt nghiệp, cũng như việc mua sắm, đầu tư trang thiết bị đều được cập nhật theo thời gian thực.
“Việc quản lý bằng dữ liệu số hỗ trợ rất nhiều cho công tác quản trị và tăng tính minh bạch. Lãnh đạo nhà trường có thể nhìn thấy tương đối đầy đủ hiệu suất, hiệu quả làm việc của từng bộ phận, từng viên chức, từ đó phân công, bố trí nhân sự hợp lý hơn. Dữ liệu giúp quản lý và khai thác cơ sở vật chất theo từng lĩnh vực, hạn chế tình trạng nơi thừa, nơi thiếu, đồng thời hỗ trợ ra quyết định đầu tư chính xác, tránh lãng phí ngân sách.
Dữ liệu số cũng góp phần chấm dứt tình trạng “làm đẹp hồ sơ” trong đội ngũ giảng viên. Việc công khai các dữ liệu cơ bản giúp người học và xã hội có thêm thông tin để tìm hiểu, lựa chọn ngành nghề phù hợp với năng lực và nhu cầu của bản thân”, cô Thắm chia sẻ.
Còn theo vị phó hiệu trưởng, đây là xu thế tất yếu, giúp tăng cường niềm tin của phụ huynh và người học nhờ tính minh bạch của cơ sở đào tạo. Doanh nghiệp cũng có thể tiếp cận, tìm hiểu chất lượng đào tạo của từng ngành nghề, từ đó đánh giá được mức độ năng động, sáng tạo của nhà trường và chủ động thiết lập quan hệ hợp tác. Thông qua dữ liệu số, doanh nghiệp còn có thể phát hiện những lĩnh vực, ngành nghề tiềm năng mà trước đó họ chưa nghĩ tới.
Trong khi đó, Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội đã tham gia cập nhật thông tin theo yêu cầu, tuy nhiên, trong quá trình vận hành vẫn phát sinh nhiều khó khăn. Thầy Tân cho biết, ví dụ như một số nền tảng cần tiếp tục hiệu chỉnh để thuận tiện hơn cho người sử dụng; danh mục ngành, nghề chưa đầy đủ; việc thay đổi phân cấp hành chính chưa được cập nhật kịp thời; chuyển đổi giấy tờ từ chứng minh thư sang căn cước công dân còn phát sinh vướng mắc. Bên cạnh đó, với dữ liệu lớn, hệ thống đôi khi gặp lỗi kỹ thuật nên không tải lên được, dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ với cơ sở dữ liệu nội bộ của nhà trường.
“Hệ thống dữ liệu số giúp nhà trường thuận lợi hơn trong khâu tuyển sinh, lựa chọn chương trình đào tạo và sàng lọc thông tin phục vụ công tác quản trị. Tuy nhiên, hệ thống cần được điều chỉnh phù hợp hơn với tình hình triển khai tại các cơ sở đào tạo”, thầy Tân chia sẻ.
Nhận thức đúng về quyền tự chủ của cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Bàn về quyền tự chủ của cơ sở giáo dục nghề nghiệp, thầy Tân nhấn mạnh trách nhiệm giải trình. Quy định về quyền tự chủ là tinh thần rất đúng trong Luật. Tuy nhiên, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chủ quản, các bộ, ngành và địa phương.
Việc đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp cũng phải được thực hiện có trọng tâm, hiệu quả, đồng thời cần đánh giá rõ kết quả của từng khoản đầu tư, tránh tình trạng dàn trải, thiếu kiểm soát.
Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội đã tự chủ chi thường xuyên từ năm 2019, tuy nhiên thực tế cho thấy từ năm 2012 đến nay, mức đầu tư dành cho nhà trường còn hạn chế. Đáng chú ý, vẫn còn một số cách hiểu chưa thật chính xác trong quản lý hiện nay. Đó là việc hỗ trợ học phí cho người học thuộc nhóm ngành nghề nặng nhọc, độc hại, vốn khoản hỗ trợ được trao cho sinh viên thông qua nhà trường, nhưng đôi khi khoản hỗ trợ này lại được xem là đầu tư cho nhà trường. Thầy Tân cho rằng, đây là đầu tư cho người học, không phải cho cơ sở đào tạo. Chính vì vậy, cần phân định rõ ràng để có chính sách đầu tư phù hợp cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thực hiện tự chủ.
Còn theo cô Thắm, quy định về quyền tự chủ tác động rất mạnh đến tư duy quản trị của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Nếu trước đây nhiều trường vận hành theo cơ chế mang tính hành chính, dựa vào “xin – cho” về chỉ tiêu và ngân sách, thì khi được trao quyền tự chủ, nhà trường buộc phải tự chịu trách nhiệm về sự phát triển và cả sự tồn tại của mình.
"Tư duy quản trị phải chuyển sang hướng hiện đại, lấy kết quả làm thước đo, làm thế nào để tối ưu nguồn lực, thu hút người học và đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường lao động”, cô Thắm chia sẻ.
Đồng thời, quyền tự chủ cũng tạo điều kiện để tổ chức đào tạo linh hoạt hơn. Cụ thể, nhà trường có thể thoát khỏi những chương trình khung cứng nhắc, chủ động điều chỉnh để thích ứng với biến động của thị trường; có thể chủ động đàm phán với doanh nghiệp để đào tạo theo đơn đặt hàng, cùng thiết kế chương trình, đưa hoạt động thực hành gắn chặt với nhà máy, xưởng sản xuất, rút ngắn khoảng cách giữa giảng đường và thực tiễn.
Mặt khác, vị Phó Hiệu trưởng cho rằng, việc được thực hiện quyền tự chủ thực chất là điều mà cơ sở giáo dục nghề nghiệp chờ đợi từ lâu. Khi được trao quyền tự chủ đi kèm với trách nhiệm giải trình, nhà trường buộc phải vận hành một cách khoa học, chính xác và minh bạch; và đòi hỏi nhà trường không thể duy trì cách nghĩ mang tính nhiệm kỳ. Bởi sự phát triển giáo dục là một quá trình liên tục. Nếu dừng lại, đồng nghĩa với tụt hậu.
Để Luật thực sự đi vào cuộc sống, theo cô Thắm, các bộ, ngành cần sớm ban hành định mức kinh tế – kỹ thuật cho từng ngành nghề cụ thể. Cơ chế đặt hàng đào tạo từ ngân sách nên dựa trên kết quả đầu ra, như tỷ lệ người học có việc làm, mức lương khởi điểm, thay vì chỉ dựa trên chỉ tiêu tuyển sinh đầu vào; hạn chế tình trạng mở ngành ồ ạt, chất lượng thấp, gây lãng phí nguồn lực xã hội.
Bên cạnh đó, cần có quy định rõ về định mức, chương trình và phương thức kiểm tra, công nhận kết quả học tập giữa các hệ thống đào tạo, bảo đảm học sinh trường nghề không phải học lại hoặc tiếp cận kiến thức quá nặng, giúp mô hình đào tạo tích hợp vận hành trơn tru và có giá trị tương đương về văn bằng.
Thêm nữa, cần có cơ chế ghi nhận “giảng viên doanh nghiệp” như một ngạch nghề nghiệp với tiêu chuẩn tương đương giảng viên cơ hữu. Đồng thời, có hướng dẫn cụ thể để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuận lợi hơn trong việc liên kết với doanh nghiệp, mời chuyên gia tham gia giảng dạy chính quy, giảm bớt các rào cản cứng nhắc về bằng cấp sư phạm, từ đó tận dụng tốt hơn nguồn lực thực tiễn từ doanh nghiệp.
