Có quy định thống nhất, tránh mỗi nơi đào tạo, đánh giá năng lực số GV, cán bộ quản lý một kiểu

29/04/2026 06:32
Mạnh Dũng
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo Phó Hiệu trưởng Trường THPT Chuyên Lào Cai, khung năng lực số tạo chuẩn chung toàn quốc và định hướng rõ ràng cho chuyển đổi số trong giáo dục.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 18/2026/TT-BGDĐT quy định Khung năng lực số đối với giáo viên, cán bộ quản lí cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên (Thông tư số 18).

Một trong những điểm nổi bật của Thông tư là việc lần đầu tiên thiết lập một Khung năng lực số thống nhất cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí cơ sở giáo dục.

Tạo sự đồng bộ trên toàn quốc, giáo viên được đánh giá theo từng miền năng lực cụ thể

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Phạm Kim Thư - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Mai Hắc Đế (phường Hoàng Mai, Hà Nội) cho rằng, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 18 là một bước tiến quan trọng trong lộ trình chuyển đổi số của ngành giáo dục.

Điểm nổi bật của Thông tư là lần đầu tiên thiết lập một khung năng lực số thống nhất, với cấu trúc gồm 6 miền năng lực và các tiêu chí cụ thể. Điều này giúp chuẩn hóa cách hiểu về năng lực số trong toàn hệ thống, từ đó tạo nền tảng chung cho công tác đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá đội ngũ giáo viên.

Thầy Phạm Kim Thư - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Mai Hắc Đế (phường Hoàng Mai, Hà Nội). Ảnh website nhà trường.

Thầy Phạm Kim Thư - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Mai Hắc Đế (phường Hoàng Mai, Hà Nội). Ảnh website nhà trường.

Trước đây, việc phát triển năng lực số cho giáo viên còn mang tính phân tán và thiếu đồng bộ. Nhiều cơ sở giáo dục triển khai tập huấn công nghệ nhưng chưa xác định rõ mục tiêu năng lực cần đạt, dẫn đến tình trạng “dạy công nghệ nhưng chưa chắc đã dạy tốt bằng công nghệ”. Việc thiếu một khung chuẩn cũng khiến công tác đánh giá còn mang tính định tính, chủ yếu dựa vào nhận xét chung như “có ứng dụng công nghệ thông tin” mà chưa đo lường được hiệu quả thực chất trong dạy học.

Với khung năng lực số thống nhất, cách tiếp cận này đã có sự thay đổi rõ rệt. Thay vì đánh giá cảm tính, giáo viên sẽ được đánh giá theo từng miền năng lực cụ thể như thiết kế bài giảng số, tổ chức dạy học trực tuyến, sử dụng dữ liệu học tập hay bảo đảm an toàn số. Điểm quan trọng là mỗi tiêu chí đều có thể gắn với minh chứng cụ thể, từ học liệu số do giáo viên xây dựng đến các hoạt động tương tác với học sinh trên môi trường số. Đây là bước chuyển từ đánh giá hình thức sang đánh giá năng lực thực hành.

Ở góc độ người học, khung năng lực số được kỳ vọng sẽ mang lại những thay đổi tích cực. Khi giáo viên làm chủ công nghệ và có khả năng cá nhân hóa dạy học, học sinh sẽ được tiếp cận với các bài giảng linh hoạt hơn, phù hợp với năng lực và tốc độ học tập của từng cá nhân. Đồng thời, môi trường học tập số cũng giúp tăng cường tương tác, khuyến khích học sinh chủ động tìm kiếm thông tin, từ đó phát triển năng lực tự học và tư duy độc lập. Quan trọng hơn, học sinh không chỉ học kiến thức mà còn được hình thành năng lực công dân số – biết sử dụng công nghệ một cách an toàn, có trách nhiệm và hiệu quả. Đây là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ hiện nay.

Có thể thấy, khung năng lực số không chỉ là một công cụ kỹ thuật mà còn là định hướng chiến lược nhằm tái định hình vai trò của giáo viên trong kỷ nguyên số. Từ chỗ “biết sử dụng công nghệ”, giáo viên sẽ từng bước chuyển sang “làm chủ công nghệ” và tổ chức các hoạt động học tập trong môi trường số một cách hiệu quả. Đây cũng chính là nền tảng để nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong thời đại mới.

thpt-mai-hac-de.jpg
Trường Trung học phổ thông Mai Hắc Đế (phường Hoàng Mai, Hà Nội) tổ chức tập huấn về ứng dụng AI trong giáo dục cho giáo viên và cán bộ quản lý. Ảnh website nhà trường

Cùng chung ý kiến, thầy Phạm Văn Đại - Phó Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Chuyên Lào Cai cho hay, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Khung năng lực số với 6 miền năng lực và 20 năng lực thành phần có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đóng vai trò như một “chiến lược số” để chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo trên toàn quốc.

Đối với ngành giáo dục, điều này tạo chuẩn chung toàn quốc, tránh mỗi nơi làm một kiểu. Đồng thời, giúp định hướng rõ ràng cho chuyển đổi số trong giáo dục và xây dựng chính sách, chương trình đào tạo giáo viên có hệ thống.

Riêng với Trường Trung học phổ thông Chuyên Lào Cai - đơn vị vốn xác định chuyển đổi số là một trong ba trụ cột chiến lược, khung năng lực này chính là “thước đo chuẩn” để đơn vị hiện thực hóa mục tiêu 100% giáo viên sử dụng thành thạo các phần mềm quản lý, dạy học trực tuyến và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ giảng dạy. Từ đó, giúp nhà trường định hướng rõ ràng lộ trình phát triển từ “trường học truyền thống” sang mô hình “trường học số”.

Theo thầy Đại, trước khi có khung năng lực số thống nhất, nhà trường đối mặt với một số thách thức trong việc xác định lộ trình bồi dưỡng giáo viên.

Thứ nhất, công tác bồi dưỡng kỹ năng số thường mang tính tự phát, chưa có chuẩn mực để phân loại trình độ giáo viên từ cơ bản đến nâng cao.

Thứ hai, một bộ phận giáo viên (đặc biệt là đội ngũ kế cận) dù có nhiệt huyết nhưng năng lực chuyển đổi số chưa đáp ứng được yêu cầu của chương trình giáo dục nâng cao và bồi dưỡng học sinh giỏi.

Thứ ba, hạ tầng công nghệ thông tin và học liệu số của nhà trường chưa thực sự đồng bộ, dẫn đến việc giáo viên lúng túng trong việc cá nhân hóa lộ trình học tập cho học sinh trường trung học phổ thông chuyên. Nhà trường thiếu một hệ thống tiêu chí định lượng để đánh giá thực chất giáo viên đang ở mức độ nào trong việc ứng dụng công nghệ trong các hoạt động giáo dục.

Vì vậy, thông qua khung năng lực số, việc đánh giá giáo viên tại nhà trường sẽ chuyển dịch từ nhận xét, đánh giá mang tính chất định tính sang định lượng và minh chứng cụ thể. Thay vì chỉ nhận xét giáo viên có ứng dụng công nghệ thông tin, nay nhà trường sẽ đánh giá dựa trên 3 mức độ: cơ bản, thành thạo và nâng cao đối với từng kỹ năng cụ thể.

Ví dụ, đánh giá khả năng thiết kế bài dạy theo tiếp cận công nghệ (miền 1). Đánh giá việc giáo viên sử dụng dữ liệu để phân tích sự tiến bộ của học sinh (miền 2);

Đánh giá mức độ đóng góp vào kho học liệu số dùng chung của nhà trường. Việc đánh giá này gắn liền với chỉ tiêu thi đua hằng năm, đảm bảo tính công bằng, khách quan và thúc đẩy giáo viên không ngừng tự bồi dưỡng chuyên môn sâu.

Còn theo thầy Huỳnh Thanh Phú - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Bùi Thị Xuân (phường Bến Thành, thành phố Hồ Chí Minh), đối với nhà trường, khung năng lực số thống nhất theo Thông tư số 18 là công cụ tự đánh giá, giúp nhà trường quản trị nhân sự hiệu quả và định hướng đổi mới phương pháp dạy và học. Từ đó, giúp trường xây dựng một môi trường giáo dục mở và có cơ sở để khuyến khích giáo viên thực hiện việc số hóa trong giảng dạy.

Thầy Phú cho biết, trước khi có khung năng lực số thống nhất này, nhà trường gặp khó khăn trong việc xác định nhu cầu bồi dưỡng thực tế. Đồng thời, chương trình đào tạo công nghệ số manh mún, thiếu tính hệ thống tạo áp lực đối với giáo viên trong việc tự bồi dưỡng.

Thông qua khung năng lực số thống nhất, nhà trường đã thay đổi trong việc đánh giá giáo viên, thay vì những nhận xét định tính chung chung về công nghệ như trước đây.

Trước đây, nhà trường thường đánh giá giáo viên bằng những câu như “có ứng dụng công nghệ thông tin” hoặc “sử dụng tốt máy tính”. Nay, việc đánh giá sẽ soi chiếu vào 6 miền năng lực với 20 năng lực thành phần rõ ràng. Chẳng hạn như thay vì nói “dạy học tốt với công nghệ”, nhà trường sẽ đánh giá thông qua việc giáo viên sử dụng hệ thống LMS.

htphu.jpg
Thầy Huỳnh Thanh Phú - Hiệu trưởng Trường trung học phổ thông Bùi Thị Xuân (phường Bến Thành, thành phố Hồ Chí Minh). Ảnh: NVCC.

Giáo viên cần làm chủ AI, sử dụng có chọn lọc để không bị phụ thuộc

Một trong những điểm đáng chú ý của Thông tư số 18 là lần đầu tiên trí tuệ nhân tạo (AI) được đưa thành một miền năng lực riêng, với yêu cầu ứng dụng AI trong dạy học và phát triển chuyên môn đi đôi với các nguyên tắc về đạo đức, minh bạch, công bằng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Đánh giá về nội dung này trong Thông tư, theo thầy Huỳnh Thanh Phú, việc đưa AI thành một miền năng lực riêng biệt (miền 6) trong khung năng lực số là một bước đi mang tính đột phá và cực kỳ kịp thời của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Điều này cho thấy tầm nhìn chiến lược của Bộ trong việc không chỉ coi AI là một công cụ hỗ trợ mà còn là một năng lực cốt lõi mà mỗi nhà giáo cần làm chủ trong bối cảnh hiện nay.

Theo đó, AI được sử dụng để tăng cường khả năng của giáo viên trong việc giảng dạy và hỗ trợ học tập, nhưng thầy cô vẫn cần giữ vai trò trung tâm, điều phối và định hướng đối với học sinh.

Hơn nữa, việc yêu cầu giáo viên phải hiểu và tuân thủ các nguyên tắc như tính minh bạch, công bằng, tôn trọng quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu cá nhân là yếu tố sống còn để AI thực sự hiệu quả. Khi giáo viên được bồi dưỡng bài bản về đạo đức, họ sẽ sử dụng AI như một “cộng sự” tin cậy để nâng cao năng lực bản thân một cách bền vững, thay vì lạm dụng hoặc sử dụng sai mục đích.

Ngoài ra, giáo viên còn là người hướng dẫn học sinh về việc sử dụng AI có đạo đức ngay tại nhà trường, từ đó lan tỏa giá trị tốt đẹp của công nghệ đến toàn bộ cộng đồng.

hs-bui-thi-xuan-hcm.jpg
Một tiết học tại Trường Trung học phổ thông Bùi Thị Xuân (phường Bến Thành, thành phố Hồ Chí Minh).

Còn theo thầy Phạm Văn Đại, việc đưa AI trở thành một miền năng lực riêng trong khung năng lực số là một bước tiến quan trọng, thể hiện sự bắt kịp xu thế công nghệ của ngành giáo dục. AI không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn có thể tham gia vào nhiều khâu trong dạy học như soạn bài, tạo học liệu, đánh giá học sinh và cá nhân hóa quá trình học tập. Điều này giúp giáo viên nâng cao hiệu quả giảng dạy và tiết kiệm thời gian.

Tuy nhiên, việc phát triển chuyên môn gắn liền với các nguyên tắc đạo đức là điều hết sức cần thiết để đảm bảo AI được sử dụng một cách hiệu quả và đúng đắn. Trước hết, giáo viên cần đảm bảo tính minh bạch, tức là không lạm dụng AI hoặc che giấu việc sử dụng AI trong quá trình giảng dạy. Bên cạnh đó, cần đảm bảo tính công bằng, tránh để AI tạo ra sự thiên lệch hoặc bất lợi cho một nhóm học sinh nào đó.

Ngoài ra, vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân cũng rất quan trọng. Giáo viên cần thận trọng khi sử dụng AI, không chia sẻ thông tin cá nhân của học sinh lên các nền tảng không đảm bảo an toàn. Đồng thời, giáo viên cũng cần kiểm chứng thông tin do AI cung cấp, tránh phụ thuộc hoàn toàn vào AI vì có thể xảy ra sai sót.

Việc kết hợp giữa phát triển năng lực sử dụng AI và tuân thủ các nguyên tắc đạo đức sẽ giúp AI trở thành công cụ hỗ trợ hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đồng thời đảm bảo môi trường học tập an toàn, công bằng và bền vững.

Mạnh Dũng