Bộ Khoa học và Công nghệ chính thức phê duyệt "Chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc giai đoạn 2026-2030" (Chương trình VREF). Mục tiêu đề ra của chương trình là hằng năm sẽ tuyển chọn, cấp kinh phí nghiên cứu cho khoảng 100 nghiên cứu sinh xuất sắc. Mức hỗ trợ tối đa lên tới 1 tỷ đồng/năm cho mỗi nghiên cứu sinh, trong thời gian không quá 3 năm.
Trong đó, chương trình ưu tiên nguồn lực cho nhóm trực tiếp tham gia các nhiệm vụ nghiên cứu làm chủ, tạo ra công nghệ lõi, phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược; phần còn lại dành cho nhóm thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đột phá thuộc những lĩnh vực khoa học khác.
Chương trình đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của các cơ sở giáo dục đại học trên cả nước.
Mức hỗ trợ 1 tỷ đồng/năm là bước đột phá, giúp nghiên cứu sinh mạnh dạn theo đuổi đề tài dài hạn
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Cao Vinh - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định, đây là một chính sách có ý nghĩa chiến lược, thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Nhà nước trong việc phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao và nâng tầm năng lực nghiên cứu quốc gia.
Theo thầy Vinh, với mức hỗ trợ lên tới 1 tỷ đồng mỗi năm cho mỗi nghiên cứu sinh, chương trình VREF trước hết sẽ giúp nghiên cứu sinh có thể toàn tâm cho hoạt động nghiên cứu, giảm áp lực tài chính và khắc phục tình trạng phổ biến hiện nay là vừa học vừa làm, từ đó nâng cao rõ rệt chất lượng đào tạo cũng như chiều sâu học thuật của các luận án tiến sĩ.
Bên cạnh đó, nguồn lực đủ lớn cho phép nghiên cứu sinh mạnh dạn theo đuổi các đề tài dài hạn, hướng tới giải quyết những bài toán lớn, có tính đột phá thay vì lựa chọn các hướng đi an toàn chỉ để hoàn thành chương trình, qua đó từng bước đóng góp vào việc hình thành các sản phẩm chiến lược và công nghệ lõi.
Đồng thời, chương trình còn góp phần xây dựng văn hóa nghiên cứu chuyên nghiệp, định vị nghiên cứu sinh như những nhà khoa học toàn thời gian, tiệm cận chuẩn mực quốc tế; qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa trong việc thu hút, giữ chân nhân tài và phát triển đội ngũ khoa học trẻ có năng lực dẫn dắt trong tương lai.
“Việc tuyển chọn khoảng 100 nghiên cứu sinh xuất sắc mỗi năm không nhằm giải bài toán số lượng, mà có ý nghĩa nâng trần chất lượng của toàn hệ thống. Đây sẽ là lực lượng tinh hoa, có khả năng dẫn dắt và lan tỏa, góp phần hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ, cũng như gia tăng năng lực công bố quốc tế và sáng chế.
Đối với các cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu, chương trình này cũng tạo ra một áp lực tích cực, buộc các đơn vị phải nâng cấp hệ sinh thái nghiên cứu, từ năng lực hướng dẫn, hạ tầng phòng thí nghiệm đến kết nối quốc tế và hợp tác với doanh nghiệp.
Về dài hạn, đây là yếu tố quan trọng góp phần tăng sức cạnh tranh quốc gia, phát triển nguồn lực và nâng cao năng lực giải quyết các chủ đề khoa học công nghệ lớn của quốc gia. Như vậy, Chương trình VREF có thể tạo đòn bẩy cho toàn hệ thống”, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nhận định.
Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Minh - Phó Hiệu trưởng Trường Điện - Điện tử, Đại học Bách khoa Hà Nội nhấn mạnh, việc tuyển chọn khoảng 100 nghiên cứu sinh xuất sắc mỗi năm có tác động đáng kể đến các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu,...
Theo thầy Minh, thực tế hiện nay, một trong những “điểm nghẽn” lớn của nhiều trường đại học và viện nghiên cứu ở Việt Nam nằm ở sự thiếu hụt đội ngũ nghiên cứu toàn thời gian ở bậc sau đại học.
Không ít nghiên cứu sinh phải phân bổ thời gian cho hoạt động giảng dạy hoặc công việc bán thời gian để đảm bảo thu nhập, dẫn đến quỹ thời gian dành cho nghiên cứu bị thu hẹp, tiến độ kéo dài và chất lượng luận án chưa đạt kỳ vọng.
“Khi được bảo đảm điều kiện làm việc toàn thời gian, các tác động tích cực sẽ thể hiện trên nhiều phương diện: trước hết là sự gia tăng đáng kể về số lượng và chất lượng công bố quốc tế; tiếp đến là việc cải thiện thứ hạng trên các bảng xếp hạng đại học, nơi các chỉ số nghiên cứu chiếm tỷ trọng lớn; đồng thời, năng lực của các phòng thí nghiệm trọng điểm và nhóm nghiên cứu mạnh được củng cố, tạo nền tảng để thu hút các đề tài và dự án hợp tác quy mô lớn. Từ đó chất lượng đào tạo ở cả bậc đại học và sau đại học cũng được nâng cao khi nghiên cứu sinh tham gia trực tiếp vào quá trình hướng dẫn, hỗ trợ học thuật cho sinh viên.
Về dài hạn, đây còn là kênh quan trọng để hình thành thế hệ giảng viên - nhà khoa học kế cận có năng lực nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế, qua đó góp phần giải quyết bài toán già hóa đội ngũ mà nhiều cơ sở giáo dục đại học đang phải đối mặt”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Minh bày tỏ.
Về mức hỗ trợ tối đa 1 tỷ đồng/năm, Phó Hiệu trưởng Trường Điện - Điện tử, Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng đây một bước tiến đột phá, có thể so sánh với các học bổng tiến sĩ của nhiều nước phát triển và lần đầu tiên cho phép nghiên cứu sinh toàn tâm toàn ý cho học thuật mà không phải tìm kiếm các nguồn thu nhập bên ngoài. Điều này sẽ tạo ra ba thay đổi rất cụ thể.
Thứ nhất, về động lực, nghiên cứu sinh có thể coi nghiên cứu là một công việc chính thức với mức thu nhập tương đương kỹ sư tốt nghiệp xuất sắc. Khi đã được đãi ngộ xứng đáng, nghiên cứu sinh sẽ có trách nhiệm, giúp chất lượng đầu ra cao hơn.
Thứ hai, về khả năng theo đuổi đề tài dài hạn, nguồn kinh phí ổn định 3 năm cho phép nghiên cứu sinh dám chọn những bài toán khó, có tính rủi ro cao nhưng tiềm năng đột phá lớn - những bài toán mà cơ chế tài trợ ngắn hạn thường không khuyến khích. Đây là điểm đặc biệt quan trọng trong các lĩnh vực công nghệ lõi như thiết kế vi mạch, AI, vật liệu mới, nơi một kết quả có ý nghĩa thường đòi hỏi 2-3 năm làm việc liên tục.
Thứ ba, về cơ cấu chi, để phát huy tối đa hiệu quả, kinh phí cần được sử dụng linh hoạt cho toàn bộ chu trình nghiên cứu: thù lao thực hiện nhiệm vụ; vật tư, thiết bị, dữ liệu và hạ tầng (máy tính hiệu năng cao, phần mềm chuyên dụng, nguyên vật liệu thí nghiệm, chi phí chế tạo thử); thuê dịch vụ đo kiểm, tính toán, gia công; công bố khoa học và tham dự hội nghị quốc tế; phát triển - thử nghiệm - hoàn thiện công nghệ; đăng ký và khai thác tài sản trí tuệ, chuyển giao công nghệ; cũng như trao đổi học thuật quốc tế.
Cần cách tiếp cận linh hoạt, hài hòa 3 trụ cột: công bố khoa học - sở hữu trí tuệ - ứng dụng
Về mục tiêu đầu ra, chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc giai đoạn 2026-2030 quy định rõ: Tối thiểu 60% kết quả nghiên cứu phải được công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín (thuộc nhóm Q1 hoặc danh mục có uy tín như Nature Index); tối thiểu 20% kết quả nghiên cứu có đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (sáng chế, giải pháp hữu ích hoặc tương đương); tối thiểu 15% kết quả nghiên cứu được chuyển giao, thương mại hóa hoặc ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh.
Đánh giá về mục tiêu này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Cao Vinh nhận định các chỉ tiêu đầu ra của Chương trình VREF được thiết kế theo hướng tiếp cận chuẩn mực quốc tế và gắn chặt với giá trị thực tiễn của nghiên cứu.
Cụ thể, yêu cầu 60% kết quả nghiên cứu phải được công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín thuộc nhóm Q1 không chỉ đặt ra chuẩn học thuật cao mà còn buộc các luận án phải có tính mới và chất lượng thực sự. Ngoài ra, chỉ tiêu 20% về sở hữu trí tuệ là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch từ nghiên cứu cơ bản sang các kết quả có khả năng bảo hộ và tiềm năng khai thác. Đồng thời, mục tiêu 15% thương mại hóa góp phần tăng cường liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp và thị trường, qua đó tạo ra giá trị gia tăng từ các sản phẩm nghiên cứu.
Theo thầy Vinh, việc kết hợp hài hòa giữa ba trụ cột: công bố khoa học - sở hữu trí tuệ - ứng dụng không chỉ phản ánh đúng bản chất của hoạt động nghiên cứu mà còn định hình hướng phát triển bền vững cho hệ sinh thái khoa học.
“Tuy nhiên, mức độ khả thi sẽ phụ thuộc rất lớn vào hệ sinh thái hỗ trợ. Trong đó, công bố quốc tế có thể đạt được nếu gắn với các nhóm nghiên cứu mạnh và hợp tác quốc tế thực chất. Ngược lại, các chỉ tiêu về sở hữu trí tuệ và đặc biệt là chuyển giao công nghệ sẽ thách thức hơn, do phụ thuộc nhiều vào mức độ tham gia của doanh nghiệp và sự hoàn thiện của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Do đó, cần có cách tiếp cận linh hoạt theo từng lĩnh vực, đồng thời tránh tình trạng chạy theo chỉ số hình thức mà không phản ánh đúng chất lượng nghiên cứu”, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho hay.
Bên cạnh những kỳ vọng tích cực, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Cao Vinh đặt ra một số băn khoăn trong quá trình triển khai chương trình cần những giải pháp đồng bộ để đạt hiệu quả cao nhất.
Theo đó, ở khâu tuyển chọn, cần thực hiện đánh giá một cách toàn diện, không chỉ đối với năng lực cá nhân của nghiên cứu sinh mà còn bao gồm chất lượng của tập thể hướng dẫn và định hướng đề tài, đặc biệt chú trọng tính hệ thống cũng như khả năng tiếp cận các hướng nghiên cứu khó, công nghệ cao.
Đối với công tác giám sát, cần được thiết kế theo hướng vừa chặt chẽ vừa linh hoạt, bảo đảm các mốc tiến độ và yêu cầu đầu ra, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để nghiên cứu sinh chủ động triển khai công việc trong khuôn khổ các quy định về quản lý khoa học và công nghệ.
Ở khâu đánh giá, cần có các hội đồng chuyên môn sâu thực hiện đánh giá định kỳ, không chỉ để kiểm soát chất lượng mà còn kịp thời hỗ trợ, tháo gỡ những khó khăn phát sinh trong quá trình nghiên cứu; đồng thời chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định đối với các đề tài mang tính đột phá, tiên phong.
Không những vậy, tính minh bạch và công bằng cần được đặt lên hàng đầu thông qua việc công khai tiêu chí, quy trình và kết quả tuyển chọn; có sự tham gia của các hội đồng độc lập, thậm chí mời chuyên gia quốc tế khi cần thiết; áp dụng cơ chế phản biện kín và thiết lập bộ phận tiếp nhận, xử lý các ý kiến trong suốt quá trình thực hiện chương trình.
Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Minh cho rằng để chương trình VREF phát huy tối đa hiệu quả, cần được đặt trong một hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ, vượt ra ngoài phần kinh phí trực tiếp dành cho nghiên cứu sinh.
Trước hết, cần đầu tư song song cho hạ tầng nghiên cứu, đặc biệt là các phòng thí nghiệm trọng điểm và hệ thống tính toán hiệu năng cao, nhằm bảo đảm điều kiện tương xứng cho các nghiên cứu chất lượng cao. Đồng thời, cần tăng cường kết nối quốc tế thông qua việc hỗ trợ nghiên cứu sinh thực tập tại các nhóm nghiên cứu hàng đầu và mời chuyên gia quốc tế tham gia hợp tác, qua đó hình thành mạng lưới học thuật bền vững.
Cùng với đó, việc gắn kết với doanh nghiệp cần được thúc đẩy bằng các cơ chế chính sách phù hợp, như ưu đãi thuế cho hoạt động đồng tài trợ nghiên cứu, nhằm tạo nguồn lực xã hội hóa ổn định cho đào tạo sau đại học. Ở góc độ dài hạn, chính sách đãi ngộ sau tốt nghiệp, bao gồm các chương trình hậu tiến sĩ với lộ trình nghề nghiệp rõ ràng, sẽ đóng vai trò quyết định trong việc giữ chân nhân tài.
Đặc biệt, chất lượng nghiên cứu sinh phụ thuộc lớn vào đội ngũ hướng dẫn, do đó cần có cơ chế ghi nhận và đãi ngộ xứng đáng cho hoạt động này như một nhiệm vụ khoa học chính thức.