Một trong những nội dung đáng chú ý của dự thảo Nghị định Quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục nghề nghiệp là quy định chế độ phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với nhà giáo giảng dạy thực hành trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập.

Cụ thể, điều 22 dự thảo quy định chế độ phụ cấp đối với nhà giáo dạy thực hành và nhà giáo vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành trong một bài học/học phần/mô đun/môn học (gọi chung là nhà giáo dạy thực hành) tại phòng thực hành, xưởng thực hành của cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập hoặc doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ với những ngành, nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp độc hại, nguy hiểm nếu có một trong các yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Tùy theo số lượng yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, nhà giáo được đề xuất hưởng mức phụ cấp từ 0,1 đến 0,4 lần mức lương cơ sở, tương ứng với từ một đến bốn yếu tố rủi ro.

Quy định mới này được lãnh đạo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đánh giá là phù hợp với thực tiễn, góp phần thu hút và giữ chân giảng viên có kinh nghiệm, chuyên môn cao ở lại trường công tác lâu dài.

Tạo động lực cho giảng viên gắn bó lâu dài với nghề

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Nguyễn Xuân Thụ - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng nghề Nghi Sơn (tỉnh Thanh Hóa) cho biết, quy định chế độ phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với nhà giáo dạy thực hành không chỉ cần thiết mà còn là yêu cầu mang tính nền tảng trong bối cảnh đổi mới giáo dục nghề nghiệp hiện nay.

Thực tế cho thấy, giảng dạy thực hành ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp thường gắn với môi trường lao động đặc thù như xưởng cơ khí, phòng thí nghiệm, khu thực hành kỹ thuật - công nghệ, nơi tiềm ẩn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe lâu dài của nhà giáo như tiếng ồn, hóa chất, bụi, nhiệt độ cao hoặc nguy cơ tai nạn lao động. Nếu không có cơ chế bù đắp thỏa đáng, những rủi ro này sẽ trở thành rào cản lớn khiến giảng viên e ngại gắn bó lâu dài với công tác giảng dạy thực hành.

Ở góc độ nhân sự, chế độ phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được xem là công cụ quan trọng để thu hút và giữ chân đội ngũ nhà giáo có chuyên môn sâu, tay nghề cao, đây là lực lượng nòng cốt quyết định chất lượng đào tạo. Trong khi khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp kỹ thuật - công nghệ sẵn sàng chi trả mức thu nhập hấp dẫn cho lao động có kỹ năng thực hành tốt thì các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nếu không có chính sách đãi ngộ phù hợp sẽ rất khó cạnh tranh trong việc tuyển dụng và duy trì đội ngũ giảng viên. Phụ cấp vì vậy không đơn thuần là khoản hỗ trợ tài chính mà còn thể hiện sự ghi nhận của Nhà nước và nhà trường đối với đóng góp thầm lặng nhưng hết sức quan trọng của nhà giáo dạy thực hành.

nxt.png
Thầy Nguyễn Xuân Thụ - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng nghề Nghi Sơn (tỉnh Thanh Hóa). Ảnh: NVCC.

Bên cạnh tác động về thu nhập, chế độ đãi ngộ hợp lý còn tạo động lực tinh thần mạnh mẽ cho đội ngũ giảng viên. Khi quyền lợi được bảo đảm, nhà giáo sẽ yên tâm công tác, giảm áp lực mưu sinh, từ đó dành nhiều thời gian và tâm huyết hơn cho việc chuẩn bị bài giảng, cập nhật công nghệ mới, đổi mới phương pháp giảng dạy và hướng dẫn sinh viên sát với thực tiễn sản xuất. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh giáo dục nghề nghiệp đang được yêu cầu gắn chặt hơn với nhu cầu của thị trường lao động, lấy chất lượng kỹ năng thực hành của người học làm thước đo chính.

Về lâu dài, chế độ phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm còn góp phần tạo dựng môi trường làm việc ổn định và công bằng trong nhà trường. Khi những đặc thù, rủi ro nghề nghiệp được nhìn nhận đúng mức và có cơ chế bù đắp tương xứng, đội ngũ giảng viên sẽ cảm nhận rõ hơn sự công bằng trong phân công nhiệm vụ và chính sách đãi ngộ. Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng đội ngũ nhà giáo bền vững, hạn chế tình trạng dịch chuyển nhân lực chất lượng cao ra khỏi khu vực giáo dục, đồng thời nâng cao uy tín và chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Vì vậy, việc quy định và thực hiện hiệu quả chế độ phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với nhà giáo dạy thực hành không chỉ nhằm bảo vệ sức khỏe, cải thiện thu nhập cho giảng viên mà còn mang ý nghĩa chiến lược trong phát triển nguồn nhân lực giáo dục nghề nghiệp. Chính sách này góp phần thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao, tạo động lực làm việc lâu dài cho đội ngũ nhà giáo, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.

Đồng quan điểm, Tiến sĩ Trần Xuân Ngọc - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Điện tử - Điện lạnh Hà Nội bày tỏ, đội ngũ nhà giáo trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là giảng viên giảng dạy các môn thực hành thường xuyên làm việc trong môi trường có nhiều yếu tố tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe. Vì vậy, việc quy định chế độ phụ cấp đối với nhà giáo là hết sức quan trọng, cần thiết và phù hợp với thực tiễn.

“Trước hết, chế độ phụ cấp sẽ giúp nhà giáo có điều kiện tốt hơn để yên tâm công tác, gắn bó lâu dài với nghề. Trong bối cảnh hiện nay, số lượng giảng viên có tay nghề cao, trình độ chuyên môn sâu trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp ngày càng khan hiếm, chính sách đãi ngộ hợp lý sẽ tạo điều kiện để các cơ sở đào tạo giữ chân đội ngũ hiện có, đồng thời thu hút thêm những nhà giáo mới yên tâm tham gia giảng dạy.

Ngoài ra, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện đang từng bước xây dựng môi trường đào tạo gắn chặt với thực tiễn sản xuất và công nghiệp. Hoạt động thực hành, thực tập ngày càng được tổ chức sát với quy trình sản xuất của doanh nghiệp; nhiều cơ sở đào tạo đưa thiết bị, công nghệ và thậm chí là các công đoạn sản xuất thực tế vào giảng dạy ngay tại nhà trường.

Trong điều kiện đó, nhà giáo không chỉ thực hiện nhiệm vụ giảng dạy chuyên môn mà còn trực tiếp tham gia vào các hoạt động mang tính lao động sản xuất, tiềm ẩn nhiều khó khăn và rủi ro. Do vậy, việc có cơ chế hỗ trợ, phụ cấp phù hợp là rất cần thiết nhằm tạo điều kiện làm việc tốt hơn cho nhà giáo, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả của giáo dục nghề nghiệp”, Tiến sĩ Trần Xuân Ngọc cho hay.

Xác định mức phụ cấp dựa theo 4 yếu tố rủi ro cần tiêu chuẩn cụ thể

Các yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được quy định trong dự thảo gồm: tiếp xúc với chất độc, khí độc, bụi độc; giảng dạy trong môi trường dễ lây nhiễm bệnh truyền nhiễm theo quy định; môi trường áp suất cao, thiếu dưỡng khí, quá nóng hoặc quá lạnh vượt chuẩn; dạy thực hành những ngành, nghề học phát sinh tiếng ồn lớn hoặc ở nơi có độ rung liên tục với tần số cao vượt quá tiêu chuẩn an toàn lao động và vệ sinh lao động cho phép; hoặc môi trường có phóng xạ, tia bức xạ, điện từ trường vượt tiêu chuẩn cho phép.

Tùy theo số lượng yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, nhà giáo được đề xuất hưởng mức phụ cấp từ 0,1 đến 0,4 lần mức lương cơ sở, tương ứng với từ một đến bốn yếu tố rủi ro.

Theo Tiến sĩ Trần Xuân Ngọc, việc xác định và áp dụng chế độ phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với nhà giáo dạy thực hành cũng có nhiều thuận lợi nhất định. Thực tế, trong giáo dục nghề nghiệp, các ngành nghề đã được phân thành hai nhóm chính: nhóm đào tạo trong nhà trường và nhóm các nghề thực hành, thực tập gắn với môi trường sản xuất.

txn.png
Tiến sĩ Trần Xuân Ngọc - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Điện tử - Điện lạnh Hà Nội. Ảnh: NVCC.

Hệ thống ngành nghề, môn học trong giáo dục nghề nghiệp hiện nay đã được phân loại tương đối rõ ràng, giúp nhà trường có cơ sở ban đầu để khoanh vùng các lĩnh vực, vị trí công việc tiềm ẩn yếu tố rủi ro. Nhiều ngành, nghề thực hành có tính đặc thù cao, mức độ nặng nhọc và nguy hiểm đã được thừa nhận rộng rãi trong thực tiễn, do đó thuận lợi cho việc xây dựng danh mục và áp dụng phụ cấp theo nhóm ngành.

Tuy nhiên, nếu chỉ đưa ra bốn yếu tố như môi trường, tiếng ồn hay điều kiện làm việc để làm căn cứ xác định phụ cấp thì vẫn chưa đủ để giải quyết những khó khăn mà nhà giáo đang gặp phải. Ngược lại, nếu xây dựng các tiêu chí quá chi tiết theo từng thông số kỹ thuật thì việc áp dụng lại càng phức tạp, bởi mỗi trường có điều kiện khác nhau; thậm chí trong cùng một cơ sở đào tạo, mức độ ảnh hưởng cũng thay đổi theo từng giai đoạn, từng môn học và từng nội dung giảng dạy.

Do đó, thầy Ngọc đề xuất có thể bổ sung thêm là gắn việc xác định chế độ phụ cấp với nhóm ngành nghề và các môn học đặc thù cụ thể của từng nhóm ngành. Cách tiếp cận này sẽ sát với thực tiễn giảng dạy hơn, dễ triển khai trong thực tế, đồng thời bảo đảm tính công bằng và phù hợp với đặc thù của giáo dục nghề nghiệp.

sv-cd-dien-tu-dien-lanh.png
Ảnh minh họa. Nguồn: Trường Cao đẳng Điện tử - Điện lạnh Hà Nội.

Còn theo thầy Nguyễn Xuân Thụ, việc xác định và áp dụng chế độ phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với nhà giáo dạy thực hành là yêu cầu cần thiết, song quá trình triển khai trong thực tế vừa có những thuận lợi nhất định, vừa đặt ra không ít thách thức.

Một mặt, hệ thống ngành nghề và môn học trong giáo dục nghề nghiệp hiện nay đã được phân loại khá rõ ràng, nhiều lĩnh vực thực hành có tính đặc thù cao, mức độ nặng nhọc và nguy hiểm đã được thừa nhận trong thực tiễn đào tạo. Cùng với đó, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ngày càng đầu tư bài bản hơn cho xưởng thực hành, phòng thí nghiệm và quy trình an toàn lao động, tạo cơ sở dữ liệu quan trọng để nhận diện các yếu tố rủi ro phát sinh trong quá trình giảng dạy.

Hành lang pháp lý về an toàn, vệ sinh lao động cũng tương đối đầy đủ, cho phép nhà trường tham khảo, vận dụng khi xây dựng tiêu chí xác định mức phụ cấp, đồng thời kết hợp với ý kiến của chuyên gia và kinh nghiệm của đội ngũ giảng viên để bảo đảm tính thuyết phục và sát thực tế.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất nằm ở việc đo lường và đánh giá chính xác mức độ nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Trên thực tế, việc xác định mức độ tiếp xúc với hóa chất, khí độc, tiếng ồn hay áp suất cao còn gặp hạn chế do thiếu thiết bị chuyên dụng hoặc chưa có tiêu chuẩn đo lường cụ thể, thống nhất.

Bên cạnh đó, nhiều yếu tố vẫn phải đánh giá theo hướng định tính, dễ phụ thuộc vào nhận định chủ quan của người thực hiện. Môi trường giảng dạy thực hành cũng không cố định mà thay đổi theo từng giai đoạn, từng môn học, nội dung đào tạo và mức độ hiện đại của thiết bị khiến việc xác nhận và công nhận các yếu tố rủi ro trở nên phức tạp hơn.

Trong bối cảnh đó, việc xác định phụ cấp cần được thực hiện theo hướng linh hoạt và sát thực tiễn. Nhà trường có thể tiến hành khảo sát trực tiếp tại các xưởng thực hành, phòng thí nghiệm; đối chiếu với các tiêu chuẩn, quy định về an toàn, vệ sinh lao động hiện hành; đồng thời tham vấn ý kiến chuyên gia và phản ánh từ chính đội ngũ giảng viên trực tiếp giảng dạy. Cách tiếp cận này không chỉ giúp đảm bảo tính khách quan, khả thi khi áp dụng mà còn góp phần xây dựng cơ chế phụ cấp phù hợp với đặc thù giáo dục nghề nghiệp, tạo động lực cho nhà giáo yên tâm công tác và nâng cao chất lượng đào tạo.

Thúy Hiền