Quảng Ninh là tỉnh đi đầu trong triển khai thực hiện đồng bộ việc sắp xếp các cơ sở giáo dục từ mầm non đến giáo dục thường xuyên, theo đó tính đến ngày 15/10/2025 toàn tỉnh đã hoàn thành sắp xếp giảm 280 đầu mối đơn vị sự nghiệp công lập, tương ứng giảm 50% cơ sở giáo dục toàn tỉnh.
Theo đại diện Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh năm 2026 tỉnh sẽ giữ ổn định quy mô, tập trung giữ vững và nâng cao chất lượng giáo dục. Việc sắp xếp, tinh gọn sẽ tiếp tục được rà soát, nghiên cứu, triển khai thực hiện sau khi tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả sau 1 năm thực hiện.
Kết quả sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục tại Quảng Ninh: giảm 825 cán bộ quản lý
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, đại diện Sở giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh cho hay: Hiện toàn tỉnh có 346 cơ sở giáo dục từ mầm non đến giáo dục thường xuyên (trong đó có 292 cơ sở giáo dục công lập, 54 cơ sở giáo dục tư thục), với 370.277 trẻ em/học sinh/học viên (công lập: 326.589, tư thục: 43.688), chiếm khoảng 25% dân số của tỉnh.
Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, mạng lưới cơ sở giáo dục phổ rộng khắp trên địa bàn tỉnh, đáp ứng nhu cầu học tập của người dân, tuy nhiên các cơ sở giáo dục phân bố không đồng đều tại các xã/phường/đặc khu.
Địa phương có số lượng trường ít nhất là xã đảo Cái Chiên, chỉ có 1 trường liên cấp tiểu học và trung học cơ sở (trước khi sáp nhập là 2 trường tiểu học và trường trung học cơ sở độc lập; do đặc thù là xã đảo nên số lượng học sinh ít). Địa phương có số lượng trường nhiều nhất là Đặc khu Vân Đồn với 17 cơ sở giáo dục (do không thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, số cơ sở giáo dục trên địa bàn giữ nguyên). Có 10 địa phương có số lượng từ 10-17 trường trên địa bàn; 36 địa phương có số lượng từ 3-9 trường trên địa bàn, còn lại 8 địa phương chỉ có từ 1-2 trường trên địa bàn.
Tính đến 15/10/2025, toàn tỉnh hoàn thành việc sắp xếp, sáp nhập giảm 280/570 (49,12%) cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên công lập, trong đó:
Khối trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã: thực hiện sắp xếp 477/520 trường thành 212 trường, giảm 265/520 trường (51%), cụ thể: Mầm non: giảm 98/185 trường (53%); Tiểu học: giảm 100/152 trường (66%); Trung học cơ sở: giảm 87/127 trường (68,5%); Tiểu học và Trung học cơ sở: giảm 21/56 trường (37,5%), đồng thời trong quá trình sắp xếp, sáp nhập hình thành 41 trường liên cấp tiểu học và trung học cơ sở.
Khối trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo: sắp xếp 18 cơ sở giáo dục thành 3 cơ sở giáo dục, giảm 15/50 cơ sở giáo dục, trong đó:
Trung học phổ thông: sắp xếp 4 trường thành 2 trường, giảm 2 trường.
Giáo dục thường xuyên: sắp xếp 13 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên và 1 Trung tâm hướng nghiệp và giáo dục thường xuyên thành 1 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, giảm 13 trung tâm.
Tính trung bình, mỗi đơn vị hành chính cấp xã sau sắp xếp có số trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở như sau: Mầm non: 2 trường/đơn vị cấp xã; Tiểu học: 1 trường/đơn vị cấp xã; Trung học cơ sở: 0,7 trường/đơn vị cấp xã; Tiểu học và Trung học cơ sở: 1,4 trường/đơn vị cấp xã.
Cũng theo đại diện Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh, việc sáp nhập các cơ sở giáo dục đã góp phần tinh gọn đầu mối, giảm số lượng đơn vị trường học, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của ngành Giáo dục cũng như chính quyền địa phương.
Sau sáp nhập, nguồn lực về đội ngũ được rà soát, bố trí và sử dụng hiệu quả hơn; đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên được cơ cấu lại, giảm tình trạng dàn trải, từng bước khắc phục tình trạng thừa, thiếu cục bộ. Với việc sắp xếp các cơ sở giáo dục, Quảng Ninh đã giảm tổng số 825 cán bộ quản lý (gồm: 294 Hiệu trưởng/Giám đốc; 531 Phó Hiệu trưởng/Phó Giám đốc).
Số cán bộ quản lý, nhân viên dôi dư sau sáp nhập được bố trí lại phù hợp với năng lực, trình độ chuyên môn và yêu cầu vị trí việc làm, qua đó phát huy tốt hơn hiệu quả công tác.
Cụ thể, đối với cấp phó dôi dư: Sở phối hợp với các xã, phường, đặc khu thực hiện điều chuyển 18 người sang cơ sở giáo dục đang thiếu; bố trí làm giáo viên: 97 người; giải quyết nghỉ chế độ (nghỉ hưu, tinh giản): 24 người.
Đối với nhân viên: Sở phối hợp với các địa phương thực hiện điều chuyển đến các các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh đang thiếu hoặc điều chuyển đến các cơ quan, đơn vị ngoài ngành Giáo dục; đồng thời chỉ đạo các cơ sở giáo dục tạo điều kiện để nhân viên tham gia các hình thức đào tạo, bồi dưỡng, đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm mới theo nguyện vọng.
Định phát triển mạng lưới trường học giai đoạn 2027-2030 của tỉnh Quảng Ninh
Chia sẻ về định phát triển mạng lưới trường học trong giai đoạn 2027-2030, đại diện Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh cho biết sẽ tiếp tục tập trung, đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển mạng lưới các trường tư thục ở các cấp học với tổng số 45 cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông dự kiến thành lập mới trong giai đoạn (29 trường mầm non, 1 trường tiểu học, 6 trường trung học cơ sở, 9 trường trung học phổ thông), trong đó có 9 trường phổ thông có nhiều cấp học.
Dự kiến sắp xếp, tổ chức lại trường học: Tập trung rà soát toàn bộ mạng lưới cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh (trường, điểm trường, quy mô số lớp, số học sinh, đội ngũ); kiểm tra, đánh giá hiện trạng cơ sở vật chất các điểm trường lẻ, đánh giá các yếu tố về điều kiện địa lý, khoảng cách đến trường, điểm trường, hạ tầng giao thông, đặc thù vùng miền). Dự kiến sau sắp xếp giảm 92 điểm trường (sáp nhập 75 điểm trường và giải thể 17 điểm).
Bên cạnh đó, Sở dự kiến tiếp tục tham mưu đề xuất đầu tư cho các cơ sở giáo dục thuộc diện dồn ghép phải được chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất tại điểm trường chính theo lộ trình đầu tư theo hướng trường đạt chuẩn quốc gia theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ngoài ra, Sở đang tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch đầu tư, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp trường học giai đoạn 2026-2030, theo đó ưu tiên đầu tư các công trình cấp thiết, có tác động trực tiếp đến việc bảo đảm an toàn trường học, tổ chức dạy học 2 buổi/ngày, bán trú, nội trú; các dự án phục vụ lộ trình xây dựng, công nhận lại trường đạt chuẩn quốc gia.
Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh cũng kiến nghị Chính phủ xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản cho phép các tỉnh ban hành cơ chế đặc thù điều chỉnh quy định về định mức số lượng cấp phó (phó hiệu trưởng) dựa trên quy mô số lớp thực tế và số lượng điểm trường cơ sở của từng đơn vị, thay vì áp đặt khung trần cố định tại Nghị định 120/2020/NĐ-CP để phù hợp với thực tế sáp nhập các đơn vị sự nghiệp và mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay.
Ngoài ra, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh cũng kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung một số quy định để phù hợp với thực tiễn. Cụ thể:
Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Thông tư số 13/2020/TT-BGDĐT quy định tiêu chuẩn cơ sở vật chất các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 23/2024/TT-BGDĐT để quy định số lớp/số học sinh phù hợp với chính quyền địa phương hai cấp. Trong đó, xem xét cơ chế đặc thù cho địa phương có địa hình chia cắt, hải đảo để áp dụng linh hoạt quy định về quy mô trường, lớp và giao địa phương quy định để phù hợp với tình hình thực tiễn.
Nghiên cứu rà soát, điều chỉnh sửa đổi các Thông tư quy định về vị trí việc làm và số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập, nhất là định mức số lượng nhân viên (y tế học đường, thư viện, thiết bị, giáo vụ) để phù hợp với thực tế một cơ sở giáo dục có thể có nhiều cơ sở/điểm trường.
Nghiên cứu sửa đổi Nghị định 116/2020/NĐ-CP và Nghị định số 60 theo hướng gia hạn thời gian phải bồi hoàn chi phí đào tạo ít nhất 5 năm nếu không tuyển dụng; để đồng bộ thời gian sắp xếp bố trí cán bộ quản lý dôi dư và phù hợp việc sắp xếp điều tiết giáo viên giữa các địa phương, các cấp học do sự tăng giảm dân số, hoặc do tinh giản biên chế giáo dục.
Đối với bộ chỉ số đánh giá mức độ chuyển đổi số: Khi thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, không còn Phòng Giáo dục và Đào tạo, Sở đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu, sửa đổi Quyết định số 3806/QĐ-BGDĐT ngày 29/11/2024 ban hành Bộ chỉ số đánh giá mức độ chuyển đổi số đối với sở giáo dục và đào tạo, phòng giáo dục và đào tạo. Đồng thời sửa đổi thẩm quyền đánh giá mức độ chuyển đổi số đối với các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở (trước đây do Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức đánh giá). Bổ sung một số tiêu chí về chuyển đổi số công tác quản lý, quản trị và dạy học để phù hợp với tình hình thực tiễn: Tỉ lệ xử lý văn bản trên môi trường số, sử dụng chữ ký số; Thư viện số/Thư viện điện tử; Tỉ lệ máy tính sử dụng phần mềm có bản quyền (liên quan đến sở hữu trí tuệ); Công tác bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng tại các cơ sở giáo dục.