Để đào tạo tốt nhóm ngành Kỹ thuật y học, cơ sở giáo dục cần có bệnh viện thực hành trực thuộc

11/03/2026 06:22
Hồng Mai
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Để nâng cao chất lượng đào tạo nhóm ngành Kỹ thuật y học, CSGD cần xây dựng chương trình xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của cơ sở khám, chữa bệnh.

Trước yêu cầu ngày càng cao về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực nhóm ngành Kỹ thuật y học, công tác đào tạo nhóm ngành này đứng trước yêu cầu phải đổi mới theo hướng thực chất và gắn với nhu cầu thực tế.

Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đào tạo nhóm ngành này, để nâng cao chất lượng đào tạo, các trường cần xây dựng chương trình theo hướng tiếp cận chuẩn năng lực, tăng cường gắn kết với bệnh viện, cơ sở y tế trong quá trình đào tạo, chú trọng phát triển năng lực thực hành và khả năng thích ứng với môi trường làm việc. Đặc biệt, một yếu tố quan trọng cơ sở giáo dục cần đáp ứng là yêu cầu có bệnh viện thực hành trực thuộc.

Cần kiểm soát kỹ điều kiện mở ngành, quy mô tuyển sinh và chuẩn đầu vào

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn Thái Nghĩa - Giám đốc Trung tâm Huấn luyện Kỹ năng Tiền lâm sàng, Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng cho biết, nhà trường đào tạo cả 3 ngành thuộc nhóm ngành Kỹ thuật y học là: Kỹ thuật xét nghiệm y học, Kỹ thuật hình ảnh y học và Kỹ thuật Phục hồi chức năng.

Trong thực tế khám chữa bệnh, bên cạnh thăm khám lâm sàng, bác sĩ thường chỉ định người bệnh thực hiện các kỹ thuật cận lâm sàng như xét nghiệm, chụp X-quang, siêu âm, điện tâm đồ… Những kết quả này cung cấp các dữ liệu quan trọng, giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh, theo dõi diễn biến và đánh giá hiệu quả điều trị.

Kỹ thuật xét nghiệm y học và Kỹ thuật hình ảnh y học đóng vai trò hỗ trợ quan trọng trong chẩn đoán và theo dõi bệnh, trong khi Kỹ thuật phục hồi chức năng góp phần hỗ trợ điều trị, giúp người bệnh cải thiện chức năng và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ sinh học và công nghệ hình ảnh, vai trò của Kỹ thuật y học ngày càng được khẳng định.

Thầy Nghĩa chia sẻ, Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng có bề dày kinh nghiệm trong đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực Kỹ thuật y học. Qua nhiều giai đoạn phát triển, nhà trường từng bước xây dựng đội ngũ giảng viên có chuyên môn, đầu tư hệ thống trang thiết bị phục vụ đào tạo và khẳng định uy tín trong đào tạo các ngành này.

“Trong những năm gần đây, một số cơ sở giáo dục đại học đã mở thêm các ngành thuộc nhóm ngành Kỹ thuật y học nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực của hệ thống y tế. Việc mở rộng đào tạo góp phần bổ sung nguồn nhân lực cho ngành. Tuy nhiên, để tránh tình trạng chạy theo số lượng mà ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, việc mở ngành cần gắn với các điều kiện bảo đảm chất lượng.

Cơ sở đào tạo cần đáp ứng những điều kiện quan trọng như đội ngũ giảng viên có chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy, hệ thống trang thiết bị được đầu tư, cập nhật, cùng cơ sở vật chất phục vụ thực hành, thực tập.

Bên cạnh đó, việc kiểm soát điều kiện mở ngành, quy mô tuyển sinh và chuẩn đầu vào cũng có ý nghĩa rất lớn. Chuẩn đầu vào phù hợp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ngay từ khâu tuyển sinh, trong khi quy mô tuyển sinh cần tương xứng với năng lực đào tạo của từng cơ sở, bao gồm đội ngũ giảng viên và hệ thống cơ sở vật chất. Nếu tuyển sinh vượt quá khả năng đáp ứng về trang thiết bị và nhân lực giảng dạy, chất lượng đào tạo khó có thể được bảo đảm.

Ngoài ra, xu hướng đào tạo hiện nay là tiếp cận theo chuẩn năng lực, lấy người học làm trung tâm, không chỉ trang bị kiến thức mà còn bảo đảm người học có thể thực hiện được các kỹ năng nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp. Vì vậy, những cơ sở giáo dục đáp ứng chất lượng đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực y tế chất lượng cao cho hệ thống chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Đặc biệt, theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh, từ ngày 1/1/2027, bác sĩ tốt nghiệp sẽ không được hành nghề ngay mà phải vượt qua kỳ thi đánh giá năng lực do Hội đồng Y khoa Quốc gia tổ chức. Các chức danh khác như y sĩ, điều dưỡng, hộ sinh sẽ áp dụng từ năm 2028; kỹ thuật y, dinh dưỡng lâm sàng, cấp cứu viên ngoại viện và tâm lý lâm sàng từ năm 2029.

Điều này sẽ trở thành một bước sàng lọc quan trọng, góp phần bảo đảm chất lượng đội ngũ nhân lực y tế. Đồng thời, cơ sở giáo dục đại học cũng cần tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo để sinh viên sau khi tốt nghiệp có đủ năng lực vượt qua kỳ thi đánh giá năng lực và đáp ứng yêu cầu hành nghề”, thầy Nghĩa nêu quan điểm.

483930760-622860063894406-3024078985793503459-n.jpg
Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn Thái Nghĩa - Giám đốc Trung tâm Huấn luyện Kỹ năng Tiền lâm sàng, Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng. Ảnh: NVCC

Cùng bàn về nội dung này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Tuệ - Phó Trưởng khoa, Khoa Kỹ thuật y học, Trường Đại học Y Hà Nội cho rằng, y học hiện đại ngày nay dựa trên nguyên tắc “y học chứng cứ”, tức các quyết định chẩn đoán và điều trị phải được đưa ra trên cơ sở những bằng chứng khoa học cụ thể, thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm như trước đây.

Trong bối cảnh đó, Kỹ thuật y học giữ vai trò quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe. Các kỹ thuật cận lâm sàng như xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh hay các thăm dò chức năng cung cấp những bằng chứng cần thiết, hỗ trợ bác sĩ từ khâu đánh giá triệu chứng đến xác định bệnh lý. Trên cơ sở các kết quả này, bác sĩ có thể đưa ra chẩn đoán chính xác hơn và lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp cho người bệnh.

Hiện nay, nhiều cơ sở giáo dục đại học đang tham gia đào tạo nguồn nhân lực nhóm ngành Kỹ thuật y học. Trong đó, Trường Đại học Y Hà Nội là một trong những đơn vị triển khai đào tạo sớm nhóm ngành này.

Tiêu chí hàng đầu của nhà trường là bảo đảm chất lượng đào tạo, vì vậy, các chương trình đào tạo được xây dựng và kiểm định theo chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, được rà soát, cập nhật định kỳ khoảng hai năm một lần.

Việc điều chỉnh không chỉ liên quan đến nội dung chương trình mà còn dựa trên kết quả khảo sát đầu ra của sinh viên, nhu cầu nhân lực của thị trường lao động và mức độ hài lòng của đơn vị tuyển dụng. Cùng với đó, các chương trình đào tạo từng bước được cập nhật tiệm cận chuẩn quốc tế.

Thầy Tuệ cũng cho rằng, việc kiểm soát điều kiện mở ngành, quy mô tuyển sinh và chuẩn đầu vào đối với các ngành thuộc nhóm Kỹ thuật y học có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm chất lượng đào tạo và chất lượng nguồn nhân lực y tế.

Trước hết, việc kiểm soát điều kiện mở ngành giúp bảo đảm các cơ sở đào tạo đáp ứng đầy đủ yêu cầu về đội ngũ giảng viên, hệ thống phòng thí nghiệm, trang thiết bị thực hành cũng như cơ sở thực hành lâm sàng như bệnh viện và trung tâm xét nghiệm.

Kỹ thuật y học là lĩnh vực gắn trực tiếp với độ chính xác của kết quả chẩn đoán và an toàn người bệnh. Vì vậy, việc kiểm soát chặt chẽ điều kiện đào tạo sẽ góp phần bảo đảm sinh viên tốt nghiệp có năng lực chuyên môn, ý thức tuân thủ quy trình kỹ thuật và kiểm soát chất lượng xét nghiệm, qua đó cung cấp nguồn nhân lực y tế chất lượng cho hệ thống chăm sóc sức khỏe.

Ngoài ra, việc quản lý chặt chẽ quy mô tuyển sinh giúp các cơ sở đào tạo duy trì chất lượng đào tạo, bảo đảm sự cân đối giữa số lượng sinh viên với năng lực giảng dạy, cơ sở vật chất và điều kiện thực hành.

Có bệnh viện trực thuộc là yêu cầu tất yếu để đảm bảo chất lượng

Theo Giám đốc Trung tâm Huấn luyện Kỹ năng Tiền lâm sàng, Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng, để nâng cao chất lượng đào tạo nhóm ngành Kỹ thuật y học, việc xây dựng chương trình cần xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của các cơ sở khám, chữa bệnh, xác định rõ sau khi tốt nghiệp, người học cần thực hiện được những kỹ năng chuyên môn nào.

Trên cơ sở đó, chương trình đào tạo cần được thiết kế theo định hướng chuẩn năng lực người học, bảo đảm sinh viên sau khi ra trường không chỉ nắm vững kiến thức mà còn có khả năng thực hiện thành thạo các kỹ thuật chuyên môn, đáp ứng yêu cầu công việc.

Cùng với đó, sinh viên cũng cần được trang bị kỹ năng về giao tiếp, tác phong nghề nghiệp và y đức. Đây là những yếu tố quan trọng giúp người làm trong lĩnh vực y tế không chỉ thực hiện tốt công việc chuyên môn mà còn xây dựng thái độ phục vụ chuyên nghiệp, góp phần nâng cao sự hài lòng của nhân dân đối với chất lượng khám chữa bệnh.

Để triển khai hiệu quả, cơ sở đào tạo cần có sự phối hợp và hỗ trợ từ Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng cơ quan liên quan, nhằm xây dựng hệ thống đào tạo đồng bộ, gắn chặt với nhu cầu thực tiễn của ngành y tế.

Trong khi đó, Phó Trưởng khoa, Khoa Kỹ thuật y học, Trường Đại học Y Hà Nội cho hay, trong đào tạo ngành Kỹ thuật y học nói riêng và khoa học sức khỏe nói chung, yếu tố thực hành lâm sàng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học.

Do đó, cơ sở đào tạo có bệnh viện thực hành trực thuộc là yếu tố quan trọng tác động đến chất lượng đào tạo cũng như khả năng làm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Điều này giúp người học có điều kiện tiếp cận môi trường lâm sàng thực tế, từ đó phát triển kỹ năng nghề nghiệp và đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực của hệ thống y tế.

Trước hết, bệnh viện thực hành tạo điều kiện để sinh viên tăng cường kỹ năng thực hành lâm sàng. Sinh viên được tiếp cận trực tiếp với mẫu bệnh phẩm, quy trình xét nghiệm và hệ thống thiết bị tại bệnh viện, qua đó rèn luyện kỹ năng thao tác chuyên môn, tuân thủ quy trình kỹ thuật, bảo đảm an toàn sinh học và kiểm soát chất lượng xét nghiệm.

Mặt khác, môi trường bệnh viện giúp gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn. Trong quá trình học tập và thực hành, sinh viên có cơ hội hiểu rõ mối liên hệ giữa kết quả xét nghiệm với tình trạng lâm sàng của người bệnh, từ đó nâng cao khả năng phân tích, đánh giá và xử lý các tình huống chuyên môn.

Ngoài ra, việc được rèn luyện trong môi trường làm việc thực tế còn giúp sinh viên nâng cao khả năng thích ứng nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp. Sinh viên dần làm quen với áp lực công việc, quy trình chuyên môn và sự phối hợp giữa các bộ phận trong bệnh viện, nhờ đó có thể nhanh chóng hòa nhập và làm việc hiệu quả khi bước vào môi trường công tác chính thức.

bai-dang-4.png
Ảnh minh họa: HMU

Theo thầy Tuệ, để nâng cao chất lượng đào tạo nhóm ngành Kỹ thuật y học trong thời gian tới, cần có cơ chế, chính sách đồng bộ từ phía Nhà nước, cơ sở đào tạo và cơ sở y tế.

Đầu tiên, cần tiếp tục tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, hệ thống phòng thí nghiệm và trang thiết bị y tế hiện đại phục vụ đào tạo và nghiên cứu. Đây là điều kiện quan trọng giúp sinh viên được tiếp cận sớm với các công nghệ, kỹ thuật tiên tiến ngay trong quá trình học tập, qua đó nâng cao năng lực thực hành nghề nghiệp.

Bên cạnh đó, việc tăng cường gắn kết giữa các cơ sở đào tạo với bệnh viện và cơ sở y tế cần được chú trọng. Sự phối hợp chặt chẽ này sẽ tạo điều kiện để sinh viên được thực hành, thực tập trong môi trường làm việc thực tế, góp phần rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng nhân lực của ngành y tế.

Ngoài ra, cần quan tâm phát triển và chuẩn hóa đội ngũ giảng viên. Đồng thời, thúc đẩy hợp tác quốc tế, tăng cường nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực kỹ thuật y học cũng là những yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực y tế chất lượng cao trong thời gian tới.

Hồng Mai